vanban.org

Bản án 04/2023/HC-PT — Hành chính

TAND tỉnh Thái Bình Tuyên án 12/12/2023 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/12/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 31, Điều 116; điểm a khoản 1 Điều 123; điểm h khoản 1 Điều 143 Điều 157, Điều 158; Điều 193 của Luật Tố t ng Hành ch nh; căn cứ Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Ch nh phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đ…

2. Tuyên : 2.1. Chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của bà Nguy n Thị G: Tuyên bố hành vi kh ng tiếp nhận giải quyết đơn đề nghị, hồ sơ để làm thủ t c cấp Giấy chứng nhận quyền s d ng đất ngày 07/3/2023 đối với bà Nguy n Thị G của UBND xã A là trái pháp luật. Buộc UBND xã A phải tiếp nhận hồ sơ, ác… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Nguyễn Thị Gái - UBND xã An Quý"
  • Tòa quyết gì? 1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 31, Điều 116; điểm a khoản 1 Điều 123; điểm h khoản 1 Điều 143 Điều 157, Điều 158; Điều 193 của Luật Tố t ng Hành ch nh; căn cứ Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Ch nh phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đ…
  • Căn cứ chính? Điều 123 Luật Tố t ng Hành ch nh; Luật Đất đai; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HC-PT
Ngày 12 tháng 12 năm 2023
V/v: Khiếu kiện hành vi hành chính
trong lĩnh vực quản lý đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hà

Các Thẩm phán: Bà Nguy n Thị Thu Hoàn

Ông Phạm Ngọc Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguy n Thị Quỳnh – Thư k Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:

Bà Vũ Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 12 năm 2023 tại tr s Tòa án nh n d n t nh Thái B nh t ph c th m c ng khai v án hành ch nh th l số 03/2023/TLPT-HC ngày 27 tháng 10 năm 2023 về việc “Khiếu kiện hành vi hành ch nh trong lĩnh vực quản l đất đai”.

Do bản án hành ch nh sơ th m số 01/2023/HC-ST ngày 18/9/2023 của Tòa án nh n d n huyện Quỳnh Ph , t nh Thái B nh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa v án ra t ph c th m số 05/2023/QĐPT-HC ngày 30 tháng 11 năm 2023, giữa:

1. Người khởi kiện kháng cáo: Bà Nguy n Thị G - sinh năm 1962; nơi cư tr : Th n S, ã A, huyện Q, t nh Thái B nh, có mặt.

2. Người bị kiện: Ủy ban nh n d n ã A, huyện Q, t nh Thái B nh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguy n Văn Đ - Chủ tịch. Có đơn in vắng mặt.

3. Người làm chứng: Ông Nguy n Duy B – C ng chức Tư pháp - Hộ tịch xã A, huyện Q, t nh Thái B nh, có đơn in vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và di n biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

* Người khởi kiện bà Nguyễn Thị G trình bày: Năm 1983, vợ chồng bà được UBND xã A cấp đất tại thôn S, xã A với diện t ch là 456m2, trong đó có 300m2 đất và 156m2 đất c y l u năm (nay là th a đất số 383, tờ bản đồ số 01). Gia đ nh bà s d ng ổn định, kh ng có tranh chấp với các hộ liền kề, kh ng lấn chiếm về hành lang giao th ng. Năm 2021, bà G đến tr s UBND xã A để làm đơn in cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đối với diện t ch đất nêu trên nhưng UBND xã A giải th ch bà ch được làm giấy chứng nhận quyền s d ng đất đối với 200m2 đất n ng th n chứ kh ng được làm 300m2 đất . Bà đã uất tr nh các tài liệu liên quan đến th a đất số 383, như sổ đăng k đất đai năm 1993, Th ng báo nộp thuế của Chi c c thuế huyện Q đối với diện t ch đất là 300m2, Th ng báo về việc nộp thuế s d ng đất phi n ng nghiệp (thuế nhà đất) số 12 ngày 16/7/2012 của UBND xã A nhưng vẫn kh ng được chấp nhận. Bà G nhiều lần đến UBND xã A gặp Chủ tịch Uỷ ban để đề nghị được em t ác nhận hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất nhưng Chủ tịch Uỷ ban ã có lời lẽ, thái độ ứng kh ng đ ng mực đối với bà nên bà rất bức c. Sau đó, Chủ tịch UBND ã còn có hành vi bêu rếu bà tại các cuộc họp và trên loa truyền thanh của ã.

Ngày 07/3/2023, bà G đến UBND xã A nộp đơn đề nghị ghi ngày 06/3/2023, đề nghị UBND xã A làm thủ t c cấp giấy chứng nhận quyền s d ng th a đất nêu trên, trong đó có diện t ch đất là 300m2 và đất trồng c y l u năm khác là 156m2. Bà được ng Nguy n Duy B – C ng chức tư pháp UBND xã A ác nhận vào đơn với nội dung: “K nh g i các cơ quan có th m quyền, bà Nguy n Thị G là công dân xã A có đơn đề nghị UBND ã để làm thủ t c cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất. Tại bộ phận tiếp nhận và trả lời kết quả của U trong thời gian vừa qua, UBND huyện và Văn phòng đăng k đất đai ch cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất cho các hộ gia đ nh tại xã A là 200m2 đất thổ cư, do vậy bộ phận tiếp công dân và tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả của UBND ã kh ng tiếp nhận đơn và hồ sơ như bà G đề nghị là 300m2. Do đó kh ng đ ng với quy định trong việc cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất cho c ng d n trong địa bàn xã A”. Do thấy danh dự, nh n ph m của m nh kh ng được t n trọng, quyền lợi của m nh bị m phạm nên bà kh i kiện ra Toà án yêu cầu:

- Yêu cầu ng Nguy n Văn Đ – Chủ tịch UBND xã A, huyện Q, t nh Thái Bình phải chấm dứt các hành vi hành ch nh trong khi thi hành c ng v về việc tiếp nhận hồ sơ đăng k quyền s d ng đất; chấm dứt các hành vi, lời lẽ, thái độ kh ng đ ng mực đối với bà, phải c ng khai in lỗi bà.

- Yêu cầu UBND xã A phải tiếp nhận hồ sơ, làm thủ t c đề nghị Cơ quan Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền s d ng đất cho bà đối với th a đất số 383, tờ bản đồ số 01, diện t ch là 456m2, trong đó có 300m2 là đất và 156m2 là đất trồng c y l u năm tại th n S, ã A, huyện Q, t nh Thái B nh theo đ ng quy định của pháp luật đất đai.

* Người bị kiện: Ông Nguy n Văn Đ - Chủ tịch Ủy ban nh n d n ã A với tư cách người đại diện theo pháp luật của người bị kiện tr nh bày:

Ông đại diện cho UBND xã A lu n giữ thái độ chu n mực của cán bộ c ng chức khi tiếp c với c ng d n, hoàn toàn kh ng có lời lẽ, thái độ kh ng đ ng mực, kh ng t n trọng bà G, kh ng có hành vi, lời lẽ bêu rếu bà G trong hội nghị cũng như loa truyền thanh của ã. Ông kh ng chấp nhận yêu cầu của bà G về việc buộc ng phải chấm dứt các hành vi, lời lẽ thái độ kh ng đ ng mực đối với bà G, phải c ng khai in lỗi bà.

Ủy ban nh n d n ã A chấp nhận yêu cầu của bà Nguy n Thị G về việc tiếp nhận, ác nhận hồ sơ theo yêu cầu của bà G để bà G làm thủ t c cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất đối với th a đất số 383, tờ bản đồ số 01, diện t ch 456m2, tại địa ch : Th n S, ã A, huyện Q, t nh Thái B nh.

Tại bản án hành chính sơ thẩm số 01/2023/HC-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 31, Điều 116; Điều 157, Điều 158; Điều 193 của Luật Tố t ng Hành ch nh; căn cứ Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Ch nh phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2013; căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội.

Tuyên :

1. Chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của bà Nguy n Thị G: Tuyên bố hành vi kh ng tiếp nhận giải quyết đơn đề nghị, hồ sơ để làm thủ t c cấp Giấy chứng nhận quyền s d ng đất ngày 07/3/2023 đối với bà Nguy n Thị G của UBND xã A là trái pháp luật. Buộc UBND xã A phải tiếp nhận hồ sơ, ác nhận hồ sơ để bà Nguy n Thị G đề nghị Cơ quan Nhà nước có th m quyền cấp Giấy chứng nhận quyền s d ng đất theo quy định của pháp luật.

2. Kh ng em t giải quyết yêu cầu của bà Nguy n Thị G về việc yêu cầu ông Nguy n Văn Đ – Chủ tịch UBND xã A, huyện Q, t nh Thái B nh phải chấm dứt các hành vi, lời lẽ, thái độ kh ng đ ng mực đối với bà, phải c ng khai in lỗi bà do không thuộc th m quyền giải quyết của Toà án.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ th m còn tuyên về án ph , quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi t sơ th m, ngày 29/9/2023, bà Nguy n Thị G kháng cáo một phần bản án hành ch nh sơ th m số 01/2023/HC-ST ngày 18/9/2023 của Tòa án nh n d n huyện Quỳnh Ph , t nh Thái B nh b i: Bà cho rằng Toà án kh ng em t yêu cầu kh i kiện của bà về việc buộc ng Nguy n Văn Đ – Chủ tịch UBND xã A, huyện Q, t nh Thái B nh phải chấm dứt các hành vi, lời lẽ, thái độ kh ng đ ng mực đối với bà, phải c ng khai in lỗi bà là kh ng đ ng. Bà đề nghị Toà án cấp ph c th m chấp nhận yêu cầu kh i kiện này của bà.

Đại diện Viện kiểm sát nh n d n t nh Thái B nh đã kết luận quá tr nh thực hiện tố t ng của Hội đồng t , các đương sự đảm bảo đ ng pháp luật và đề nghị Hội đồng t áp d ng khoản 1 Điều 241 Luật Tố t ng Hành ch nh, giữ nguyên bản án hành ch nh sơ th m số 01/2023/HC-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Toà án nh n d n huyện Quỳnh Ph , t nh Thái B nh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ v án cũng như th m tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng t

nhận định:

Về tố t ng: Đơn kháng cáo của bà Nguy n Thị G nộp trong hạn luật định nên được em t theo tr nh tự ph c th m.

X t yêu cầu kháng cáo của bà Nguy n Thị G thấy: Theo khoản 3 Điều 3 Luật Tố t ng Hành ch nh quy định: “Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính Nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật”. Như vậy, yêu cầu kh i kiện của bà G về việc: “Buộc ng Nguy n Văn Đ - Chủ tịch UBND xã A phải chấm dứt các hành vi, lời lẽ, thái độ kh ng đ ng mực đối với bà, phải c ng khai in lỗi bà”, kh ng phải là yêu cầu kh i kiện hành ch nh thuộc th m quyền giải quyết của Toà án nhưng Toà án cấp sơ th m vẫn th l và quyết định kh ng em t, giải quyết yêu cầu này của bà G là kh ng đ ng pháp luật. Trường hợp này, nếu Toà án đã th l kh ng đ ng th cần phải căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 123 và điểm h khoản 1 Điều 143 Luật Tố t ng Hành ch nh để đ nh ch giải quyết đối với yêu cầu kh i kiện này của bà G. Tuy nhiên, việc Toà án th l và kh ng em t giải quyết yêu cầu này của bà G kh ng làm ảnh hư ng đến quyền và lợi ch hợp pháp của bà G nên kh ng chấp nhận kháng cáo của bà Nguy n Thị G, giữ nguyên bản án sơ th m của Toà án nh n d n huyện Quỳnh Ph , t nh Thái B nh.

Về án ph : Bà G là người cao tuổi, có đơn in mi n án ph . Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội, mi n toàn bộ án ph hành ch nh ph c th m cho bà G.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố t ng Hành ch nh, kh ng chấp nhận kháng cáo của bà Nguy n Thị G, giữ nguyên bản án hành ch nh sơ th m số 01/2023/HC-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nh n d n huyện Quỳnh Ph , t nh Thái B nh.

1.1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 31, Điều 116; điểm a khoản 1 Điều 123; điểm h khoản 1 Điều 143 Điều 157, Điều 158; Điều 193 của Luật Tố t ng Hành ch nh; căn cứ Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Ch nh phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2013; căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội.

1.2. Tuyên :

1.2.1. Chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của bà Nguy n Thị G: Tuyên bố hành vi kh ng tiếp nhận giải quyết đơn đề nghị, hồ sơ để làm thủ t c cấp Giấy chứng nhận quyền s d ng đất ngày 07/3/2023 đối với bà Nguy n Thị G của UBND xã A là trái pháp luật. Buộc UBND xã A phải tiếp nhận hồ sơ, ác nhận hồ sơ để bà Nguy n Thị G đề nghị Cơ quan Nhà nước có th m quyền cấp Giấy chứng nhận quyền s d ng đất theo quy định của pháp luật.

1.2.2. Kh ng em t giải quyết yêu cầu của bà Nguy n Thị G về việc yêu cầu ng Nguy n Văn Đ - Chủ tịch UBND xã A, huyện Q, t nh Thái B nh phải chấm dứt các hành vi, lời lẽ, thái độ kh ng đ ng mực đối với bà, phải c ng khai in lỗi bà do kh ng thuộc th m quyền giải quyết của Toà án.

2. n ph : Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội về án ph , lệ ph Tòa án, mi n án ph hành ch nh ph c th m cho bà Nguy n Thị G.

3. Bản án ph c th m có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ph c th m.

Cỡ chữ