vanban.org

Bản án 04/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1-Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn;

2- Buộc bị đơn ông Lê Khắc Anh L và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Lê Mẫn C, ông Lê Quốc C có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh Cam Lâm số nợ tính đến ngày xét xử 10/3/2023 là 171.663.895 đồng, gồm tiền gốc: 124.000.000 đồng; t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng nông nghiệp kiện Ngô Nguyễn Văn Toàn vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? 1-Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 463 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAM LÂM
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/DS-ST
Ngày 10 tháng 03 năm 2023
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM - TỈNH KHÁNH HÒA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Được

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Hoàng Quang Thanh

2/ Ông Thái Cao Bình

-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ - Thư ký tòa án nhân dân huyện Cam Lâm.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm tham gia phiên tòa: ông Trần Xuân Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 10/3/2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hoà mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 71/2021/DS-ST ngày 04/10/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST-DS ngày 11/01/2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 02/2023/QĐST-DS ngày 07/02/2023, giữa:

* Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

Địa chỉ: số 2 đường Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội- Đại diện theo pháp luật: ông Tiết Văn T - Tổng giám đốc

Đại diện theo ủy quyền: Bà Chu Thị D- Phó Giám đốc Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh Cam Lâm (theo văn bản ủy quyền số 174/NHNo-CL-UQ ngày 06/02/2023). Bà D có mặt tại phiên toà.

* Bị đơn: Ông Lê Khắc Anh L, sinh năm 1975

Địa chỉ: Thôn Tân Lập, xã Cam Phước Tây, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa

(Vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

-Ông Lê Quốc C, sinh năm 1997

Địa chỉ: Thôn Tân Lập, xã Cam Phước Tây, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa

-Bà Lê Mẫn C, sinh năm 2004

Địa chỉ: Thôn Tân Lập, xã Cam Phước Tây, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa

(Ông C, bà C vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

-Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Chu Thị D trình bày:

Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Cam Lâm, Khánh Hòa và ông Lê Khắc Anh L đã ký hợp đồng tín dụng số 4706LAV201961756 (Theo Giấy uỷ quyền ngày 28/07/2019 do bà Hồ Thị Bích T ủy quyền cho ông Lê Khắc Anh L vay) với số tiền vay trên hợp đồng là 150.000.000 đồng: Mục đích vay: cải tạo vườn điều; Lãi suất cho vay tại thời điểm ký kết: 10 % năm; Kỳ hạn trả nợ đầu tiên: 31/07/2020, Kỳ hạn trả nợ cuối cùng: 31/07/2024; Sổ kỳ hạn nợ: 05 kỳ; Dư nợ gốc hiện tại 143.000.000 đồng; Lãi trả đến đến 30/06/2020. Hình thức cho vay hợp đồng tín chấp có giữ hộ tài sản. Theo đó ngân hàng Nông nghiệp đã giữ hộ 02 tài sản của ông Lộc cụ thể.

1/ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BM396739: Thửa đất 181 tờ bản đồ 31, Diện tích 444 m2; Mục đích sử dụng đất: đất ở tại nông thôn; Thời gian sử dụng đất: Lâu dài; Địa chỉ thửa đất: Thôn Tân Lập, xã Cam Phước Tây, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa

Có số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH00529 do ủy ban nhân dân huyện Cam Lâm cấp ngày 29/01/2013.

Nguồn gốc sử dụng đất: Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất.

2/ Giấy chứng nhận diện tích đất đã đo đạc và chờ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ủy ban nhân dân xã Cam Phước Tây xác nhận ngày 19/06/2018: Thửa đất số 190, tờ bản đồ 51; Diện tích 29766 m2; Mục đích sử dụng đất: đất rừng sản xuất.

Quá trình vay, tính đến nay 10/3/2023, ông L đã trả 3 lần cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam gồm 26.000.000 đồng tiền gốc và lãi là 13.767.125 đồng.

Tính đến hết ngày xét xử hôm nay 10/3/2023, tổng số tiền ông L còn nợ tại ngân hàng là 124.000.000 đồng, gồm tiền gốc: 26.000.000 đồng; tiền lãi : 47.663.895 đồng.

Ngân hàng đã nhiều lần trực tiếp và có văn bản yêu cầu ông L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông C và bà C là con ruột của ông L thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ theo hợp đồng đã ký, tuy nhiên ông L và những người liên quan vẫn không thực hiện nghĩa vụ và không hợp tác.

Nay Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển thôn Việt Nam chi nhánh Cam Lâm khởi kiện đến Toà án yêu cầu ông Lê Khắc Anh L, bà Lê Thị Mẫn C, ông Lê Quốc C có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển nông thôn Việt Nam số nợ nêu trên đồng thời phải chịu chi phí tố tụng.

Trường hợp ông L và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không trả nợ theo cam kết tại hợp đồng thì Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - chi nhánh Cam Lâm có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản là 02 quyền sử dụng đất mà ngân hàng đang giữ hộ nêu trên để thu hồi nợ.

-Tại biên bản lấy lời khai bị đơn ông Lê Khắc Anh L trình bày: Tôi thừa nhận có vay của Ngân hàng Nông nghiệp Chi nhánh Cam Lâm một số tiền gốc là 150 triệu đồng, có trả được 5.000.000 đồng (tính đến 4/8/2022). Sau đó do vợ tôi bệnh nặng và mất nên chưa trả được từ đó đến nay. Số lãi bao nhiêu thì tôi không tính được. Tổng số nợ hiện nay (tính đến 4/8/2022) theo Ngân hàng cho biết là gốc còn nợ 143 triệu, lãi 35,5 triệu, chi phí định giá, thẩm định tại chỗ 10 triệu, tổng cộng tính đến 31/7/2022 là 189.000.000 đồng. Kinh tế hiện nay gia đình tôi rất khó khăn, trong nhà có một số đồ gỗ (phản, bàn ghế gốc cây…), tôi sẽ bán số đồ gỗ này để trả cho Ngân hàng. Tôi xác nhận số nợ này và có hướng trả dứt điểm cho Ngân hàng trong thời gian sớm nhất.

-Tại bản tự khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Quốc C (con ông L) trình bày: Tôi là con ruột của ông Lê Khắc Anh L, vào năm 2019, bà Hồ Thị Bích T là mẹ tôi có uỷ quyền cho ông L vay với số tiền gốc là 150 triệu đồng. Tôi, ông L, bà C em tôi là thành viên trong hộ sẽ có trách nhiệm trả số nợ gốc và lãi cho ngân hàng. Hiện tại chúng tôi đang bán đất rẫy, nếu chúng tôi bán được sẽ trả trước hạn.

-Tại bản khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Mẫn C (con ông L) trình bày: Tôi là con ruột của ông Lê Khắc Anh L, vào năm 2019, bà Hồ Thị Bích T uỷ quyền cho ông L vay với số tiền gốc là 150 triệu đồng. Tôi đồng ý số nợ gốc và lãi của Ngân hàng và không có ý kiến gì. Vì tôi là thành viên trong hộ sẽ có trách nhiệm trả số nợ gốc và lãi cho ngân hàng. Hiện tại chúng tôi đang bán đất rẫy, nếu chúng tôi bán được sẽ trả trước hạn.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm phát biểu ý kiến:

-Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

-Về nội dung giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017 chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Quá trình tố tụng Toà án đã tống đạt, triệu tập hợp lệ bị đơn và người liên quan để tham gia các phiên tiếp cận chứng cứ và hoà giải nhiều lần nhưng bị đơn và người liên quan vắng mặt không có lý do; tại phiên toà, mặc dù Toà án đã triệu tập hợp lệ bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng cũng vắng mặt không có lý do lần thứ hai nên Toà án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung tranh chấp:

Ông Lê Khắc Anh L đã ký hợp đồng tín dụng với hình thức tín chấp số 4706LAV201961756 (Theo Giấy uỷ quyền ngày 28/07/2019 do bà Hồ Thị Bích T (vợ ông L) ủy quyền cho ông Lê Khắc Anh L vay) với số tiền vay trên hợp đồng là 150.000.000 đồng: Mục đích vay: cải tạo vườn điều; Lãi suất cho vay tại thời điểm ký kết: 10 % năm; Kỳ hạn trả nợ đầu tiên: 31/07/2020, Kỳ hạn trả nợ cuối cùng: 31/07/2024; Số kỳ hạn nợ: 05 kỳ;

Trên thực tế, quá trình vay tính đến nay, ông Lộc đã trả 3 lần cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh Cam Lâm gồm 26.000.000 đồng tiền gốc và lãi là 13.767.125 đồng.

Tính đến hết ngày xét xử 10/3/2023, tổng số tiền ông Lộc còn nợ tại ngân hàng gồm: tiền gốc: 124.000.000 đồng; tiền lãi : 47.663.895 đồng.

Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thừa nhận số nợ này nhưng đến nay vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Hội đồng xét xử xét thấy: Việc ông Lê Khắc Anh L vay của Ngân hàng Nông nhiệp Chi nhánh Cam Lâm theo Hợp đồng nói trên là có thật; Sau khi vay ông L có trả một phần số nợ nêu trên nhưng sau đó không tiến hành trả nữa mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu ông thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhiều lần nhưng ông không trả.

Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đơn vị mình, Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển thôn Việt Nam Chi nhánh Cam Lâm khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bị đơn ông Lê Khắc Anh L, bà Lê Thị Mẫn C, ông Lê Quốc C có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển nông thôn Việt Nam số nợ nêu trên theo Hợp đồng hai bên đã ký kết và phải chịu chi phí tố tụng là có cơ sở pháp luật nên cần buộc bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan liên đới trả số nợ này cho Ngân hàng là phù hợp với pháp luật và thực tế.

Về án phí, chi phí tố tụng: Bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng theo qui định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

-Căn cứ vào Khoản 3, Khoản 16 Điều 4; Khoản 2 Điều 6; Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017; các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1-Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn;

1.2- Buộc bị đơn ông Lê Khắc Anh L và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Lê Mẫn C, ông Lê Quốc C có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh Cam Lâm số nợ tính đến ngày xét xử 10/3/2023 là 171.663.895 đồng, gồm tiền gốc: 124.000.000 đồng; tiền lãi : 47.663.895 đồng.

Và các khoản lãi phát sinh sau ngày 10/3/2023 cho đến khi hết nợ.

1.3-Ngân hàng có nghĩa vụ hoàn trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BM396739 có Số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH00529 do Ủy ban nhân dân huyện Cam Lâm cấp ngày 29/01/2013 và Giấy chứng nhận diện tích đất đã đo đạc và chờ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân xã Cam Phước Tây xác nhận ngày 19/06/2018; Thửa đất số 190, tờ bản đồ 51; Diện tích 29766 m2; Mục đích sử dụng đất: đất rừng sản xuất cho ông Lê Khắc Anh L.

2. Về án phí, chi phí tố tụng:

- Án phí: ông Lê Khắc Anh L, ông Lê Quốc C, bà Lê Mẫn C cùng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 8.583.194 đồng;

- Chi phí tố tụng: Chi phí tố tụng định giá, thẩm định tại chỗ do Ngân hàng đã tạm ứng là 10.000.000 đồng nên ông Lê Khắc Anh L, ông Lê Quốc C, bà Lê Mẫn C cùng phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng số tiền 10.000.000 đồng.

Hoàn lại Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam Chi nhánh Cam Lâm 4.060.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số AA/2021/0008850 ngày 17/8/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lâm.

3. VÒ quyÒn kh¸ng c¸o: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

4. Qui định: KÓ tõ ngµy nguyên đơn cã ®¬n yªu cÇu thi hµnh ¸n nÕu bÞ ®¬n và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không thi hành xong khoản tiền nói trên thì phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền gốc chậm trả theo mức lãi suất tương ứng được qui định theo Hợp đồng tín dụng và Phụ lục Hợp đồng kèm theo đã được ký kết giữa hai bên cho đến khi thi hành án xong.

Trường hợp bản ¸n được thi hµnh theo quy định tại Điều 2 Luật thi hµnh ¸n d©n sù thì người được thi hµnh ¸n d©n sự, người phải thi hµnh ¸n d©n sù cã quyền thỏa thuận thi hµnh ¸n, quyền yªu cÇu thi hµnh ¸n, tự nguyện thi hµnh ¸n hoặc bị cưỡng chế thi hµnh ¸n theo quy định tại c¸c Điều 6, 7 vµ 9 Luật thi hµnh ¸n d©n sự. Thời hiệu thi hµnh ¸n được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hµnh ¸n d©n sù./.

Cỡ chữ