- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Bản án tranh chấp hợp đồng tín dụng HD Bank- Đặng Quang Chung"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/DS-ST Ngày 05-5-2023 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đỗ Đức Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Mai
Bà Phạm Thị Thanh Hiên.
- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 45/2022/TLST-DS ngày 11/11/2022 về tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 236/2023/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 293/2023/QĐST-DS ngày 14 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển thành phố Hồ Chí Minh (viết tắt là HD Bank); địa chỉ trụ sở chính: Số 25 Bis Nguyễn Thị Minh Khai, phường Bến Nghé, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Viết T - Tổng giám đốc. Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Tuấn G - Phó giám đốc Trung tâm xử lý nợ Miền Bắc (theo văn bản ủy quyền số 597/2020/QĐ-TGĐ ngày 08/4/2020). Đại diện theo ủy quyền lại: Ông Trương Chí T - Chuyên viên xử lý nợ Trung tâm xử lý nợ Miền Bắc (theo văn bản ủy quyền số 409/2022/TTXLNMB ngày 21/7/2022); có mặt.
- Bị đơn: Ông Đặng Quang C; nơi cư trú: Số 8/172 Tôn Đức T, phường L, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện nộp tại Tòa án ngày 10/11/2022, bản tự khai và trong quá trình xét xử, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 16/7/2021, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển thành phố Hồ Chí Minh (viết tắt là HDBank) cùng ông Đặng Quang C ký kết Hợp đồng tín dụng số 13386/21MB/HĐTD về việc cung cấp tín dụng vay tiêu dùng. Theo đó, ngân hàng HDBank đồng ý giải ngân theo khế ước nhận nợ số 13386/21MB/HĐTD/KUNN01 ngày 21/7/2021 với số tiền là 700.000.000 đồng (Bẩy trăm triệu); thời hạn 300 tháng; lãi suất vay 08%/năm; thời điểm thanh toán từng kỳ được ấn định trả nợ gốc và lãi trả được ghi nhận trong Hợp đồng tín dụng của HD Bank.
Để bảo đảm cho khoản vay của Hợp đồng tín dụng, ông Đặng Quang C đã dùng tài sản thế chấp là quyền sử dụng diện tích 304m2 đất (đất ở 262m2, đất trồng cây 42m2) và tài sản gắn liền với đất thuộc tờ bản đồ số 10-2019, thửa số 01 tại xóm Đ, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 442213 do Sở Tài nguyên & môi trường thành phố Hà Nội cấp ngày 07/01/2020 mang tên ông Đặng Quang C theo Hợp đồng thế chấp số 13386/21MB/HĐBĐ ngày 16/7/2021 được công chứng tại Phòng công chứng H - thành phố Hà Nội và đăng ký thế chấp tại Văn phòng ĐKĐĐ huyện C, thành phố Hà Nội.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Đặng Quang C đã trả cho HDBank số tiền là: 11.835.662 đồng (trong đó trả nợ gốc là 4.573.501 đồng, nợ lãi 7.282.161 đồng). Đến tháng 9/2021, ông Đặng Quang C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không tiếp tục trả nợ cho ngân hàng. Ngày 23/2/2022 HD Bank đã ra thông báo thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ khoản vay còn lại chưa thanh toán của Hợp đồng tín dụng nêu trên.
Do đó, HD Bank khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Đặng Quang C phải thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc và lãi của hợp đồng tín dụng khi bản án có hiệu lực pháp luật cho HD Bank tạm tính đến ngày 19/7/2022 với tổng số tiền là 756.486.780 đồng (trong đó: Nợ gốc là 695.333.999 đồng; nợ lãi trong hạn là 57.544.057 đồng; nợ lãi quá hạn là 3.608.724 đồng). Trường hợp ông Đặng Quang C không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì HDBank có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng diện tích 304m2 đất (đất ở 262m2, đất trồng cây 42m2) và tài sản gắn liền với đất thuộc tờ bản đồ số 10-2019, thửa số 01 tại xóm Đ, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 442213 do Sở Tài nguyên & môi trường thành phố Hà Nội cấp ngày 07/01/2020 mang tên ông Đặng Quang C (theo Hợp đồng thế chấp số 13386/21MB/HĐBĐ ngày 16/7/2021) để Ngân hàng HDBank thu hồi khoản nợ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Đặng Quang C vắng mặt ở địa phương, nhưng ông C không khai báo việc vắng mặt. Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương được biết ông C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương, nhưng đến nay ông C chuyển đi đâu không rõ. Xác minh tại Cục xuất nhập cảnh - Bộ công an cung cấp ông C không xuất cảnh và gia đình cũng không biết ông C ở đâu, không cung cấp địa chỉ, nên Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp, niêm yết các văn bản tố tụng thông qua việc xác nhận của đại diện của chính quyền địa phương cho ông C và thông báo nhắn tin trên Cổng thông tin của Tòa án, Cổng thông tin thành phố, Báo Công lý, Đài tiếng nói Việt Nam theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho ông C.
Tại phiên tòa, nguyên đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ông Đặng Quang C theo quy định pháp luật.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật; nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; bị đơn đã không chấp hành đúng theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự và đề nghị áp dụng điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt. Đồng thời phát biểu quan điểm về nội dung giải quyết vụ án theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
Tại các giai đoạn tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn ông Đặng Quang C; nơi cư trú: Số 8/172 Tôn Đức T, phường L, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật; nguyên đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ông C. Trên cơ sở quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Đây là vụ án dân sự tranh chấp về Hợp đồng tín dụng với mục đích vay tiêu dùng theo hạn mức giải ngân giữa nguyên đơn là ngân hàng HDBank và bị đơn là ông Đặng Quang C; nguyên đơn khởi kiện trong thời hạn pháp luật quy định và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về nội dung yêu cầu của đương sự:
Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng nêu trên, ngân hàng HDBank đã thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng tiến hành giải ngân số tiền vay theo hạn mức cung cấp tín dụng cho bị đơn. Nhưng bị đơn đã không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ đúng kỳ hạn thanh toán như đã cam kết. Nay ngân hàng HDBank yêu cầu bị đơn ông Đặng Quang C phải thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc và lãi còn lại tính đến thời điểm xét xử ngày 05/5/2023, ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật cho ngân hàng HDBank với số tiền tổng cộng là 829.696.901 đồng, bao gồm:
+ Nợ gốc là 695.333.999 đồng
+ Nợ lãi trong hạn là 118.924.924 đồng
+ Nợ lãi quá hạn là 15.437.978 đồng
Ông Đặng Quang C còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định trong Hợp đồng tín dụng từ ngày 05/5/2023 đến ngày trả hết nợ.
Xét Hợp đồng tín dụng số 13386/21MB/HĐTD ngày 16/7/2021 về việc cung cấp tín dụng vay tiêu dùng, có tài sản bảo đảm giữa ngân hàng HDBank với ông Đặng Quang C được ký kết giữa các bên đều tuân thủ các quy định tại Điều 116, Điều 117 và Điều 121 Bộ luật Dân sự khi giao kết.
Đối với tài sản thế chấp (theo Hợp đồng thế chấp số 13386/21MB/HĐBĐ ngày 16/7/2021): Quyền sử dụng diện tích đất 304m2 (đất ở 262m2, đất trồng cây 42m2) và tài sản gắn liền với đất thuộc tờ bản đồ số 10-2019, thửa số 01 tại xóm Đ, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 442213 do Sở Tài nguyên & môi trường thành phố Hà Nội cấp ngày 07/01/2020 mang tên ông Đặng Quang C. Quá trình giải quyết, Tòa án đã ủy thác cho Tòa án nhân dân huyện C, thành phố Hà Nội xác minh, xem xét thẩm định cho thấy đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Đặng Quang C, hiện không có tranh chấp, không có giao dịch chuyển nhượng và là tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp hiện do ngân hàng HD Bank đang quản lý. Tại thời điểm giao kết hợp đồng, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên được thực hiện theo đúng quy định Luật Đất đai năm 2013 và Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng.
Như vậy hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp đã được giao kết trên là hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên và các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thoả thuận đã cam kết trong những hợp đồng này theo quy định tại khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 và quy định của Bộ luật Dân sự.
Trong giai đoạn hòa giải tại Tòa án, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do và không có bất kì quan điểm nào đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Qua xác minh tại địa phương cũng thể hiện việc bị đơn có đăng ký hộ khẩu tại nơi cư trú, nhưng hiện không có mặt tại địa phương, không khai báo vắng mặt, kết quả xác minh và nhắn tin đều không có tin tức của ông Đặng Quang C. Ủy ban nhân dân xã T, huyện C cung cấp cho biết cuối năm 2022 ông C có về quê làm tang lễ cho bố đẻ sau đó đi đâu làm gì không rõ. Trường hợp này căn cứ quy định của pháp luật xác định ông C cố tình trồn tránh, giấu địa chỉ không đến Tòa án làm việc kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử. Điều này thể hiện bị đơn không hợp tác với nguyên đơn để giải quyết nghĩa vụ trả nợ, không chấp hành pháp luật, gây ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy sự thỏa thuận giữa các bên trong Hợp đồng tín dụng là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với các Điều, khoản đã ghi trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết, cũng như phù hợp với quy định tại các Điều 463, Điều 466, khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Buộc ông Đặng Quang C phải thanh toán toàn bộ số nợ gốc, lãi như đã nêu ở trên.
Về tài sản thế chấp để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của bị đơn hiện nay là Quyền sử dụng diện tích đất 304m2 (đất ở 262m2, đất trồng cây 42m2) và tài sản gắn liền với đất thuộc tờ bản đồ số 10-2019, thửa số 01 tại xóm Đ, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 442213 do Sở Tài nguyên & môi trường thành phố Hà Nội cấp ngày 07/01/2020 mang tên ông Đặng Quang C. Đối với hợp đồng thế chấp tài sản như đánh giá ở trên đều tuân thủ các quy định hình thức, nội dung hợp đồng dân sự theo quy định của pháp luật. Đánh giá về bản chất hợp đồng đều thể hiện ý chí tự nguyện giao kết, ký hợp đồng tại thời điểm lập và đã được bảo đảm giải ngân khoản nợ vay cho ông Đặng Quang C. Do đó việc ngân hàng có quyền yêu cầu phát mại tài sản bảo đảm theo đúng nghĩa vụ bảo đảm khoản tiền nợ gốc, lãi tương ứng của ông Đặng Quang C ghi trong hợp đồng là có căn cứ, cần chấp nhận.
- Về án phí:
Ngân hàng HD Bank không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại ngân hàng HD Bank số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp. Ông Đặng Quang C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ Khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn
Buộc ông Đặng Quang C phải thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng số 13386/21MB/HĐTD ngày 16/7/2021 ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật cho Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố Hồ Chí Minh với số tiền tạm tính đến ngày 05/5/2023 là 829.696.901 đồng (tám trăm hai mươi chín triệu, sáu trăm chín mươi sáu nghìn, chín trăm lẻ một đồng), bao gồm:
- Nợ gốc là 695.333.999 đồng (sáu trăm chín mươi lăm triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn, chín trăm chín mươi chín đồng).
- Nợ lãi trong hạn là 118.924.924 đồng (một trăm mười tám triệu, chín trăm hai mươi bốn nghìn chín trăm hai mươi bốn đồng)
- Nợ lãi quá hạn là 15.437.978 đồng (mười lăm triệu, bốn trăm ba mươi bảy nghìn, chín trăm bảy mươi tám đồng)
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Đặng Quang C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố Hồ Chí Minh thì lãi suất mà ông Đặng Quang C vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố Hồ Chí Minh
Trường hợp ông Đặng Quang C không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số nợ cho Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố Hồ Chí Minh thì Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố Hồ Chí Minh có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại toàn bộ tài sản thế chấp để thực hiện nghĩa vụ bảo dảm đã cam kết theo Hợp đồng thế chấp số 13386/21MB/HĐBĐ ngày 16/7/2021. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng diện tích đất 304m2 (đất ở 262m2, đất trồng cây 42m2) và tài sản gắn liền với đất thuộc tờ bản đồ số 10-2019, thửa số 01 tại xóm Đ, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 442213 do Sở Tài nguyên & môi trường thành phố Hà Nội cấp ngày 07/01/2020 mang tên ông Đặng Quang C
Về án phí: Trả lại Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố Hồ Chí Minh số tiền 17.130.000 đồng (mười bảy triệu một trăm ba mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí số 0005402 ngày 10/11/2022 của Chi cục thi hành án Dân sự quận Lê Chân. Ông Đặng Quang C phải nộp 36.890.907 đồng (ba mươi sáu triệu, tám trăm chín mươi nghìn, chín trăm linh bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố Hồ Chí Minh, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Đặng Quang C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận Lê Chân; - Chi cục THADS quận Lê Chân; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Đức Hoàng |