- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng thương mại cổ phân B và Sơn Thị Hồng N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần B.
- Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG ——————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/DS-ST Ngày 20-02-2023 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lý Thanh Chiều.
Ông Lê Hoàng Điệt.
- Thư ký phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh là thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên Tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý – Kiểm Sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 78/2022/TLST-DS ngày 03 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần B; Địa chỉ: Tầng 1, 3, 4, 5, 6 Tòa nhà Thaiholdings Tower, số 210 đường T, phường T, Quận H, Thành Phố Hà Nội;
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Da B- chức vụ: chuyên viên Khách hàng – Phòng giao dịch Mỹ Tú trực thuộc Ngân hàng Thương mại cổ phần B – Chi nhánh Sóc Trăng; Địa chỉ: Số 153, Đường H, ấp C, Thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (theo Quyết định ủy quyền tham gia tố tụng và thực hiện các công việc liên quan tại Tòa án số: 1073/2022/QĐ-LienVietPostBank.CNST, ngày 03 tháng 10 năm 2022) (có mặt).
- Bị đơn: Bà Sơn Thị Hồng N và ông Tăng Thanh P; Cùng địa chỉ: ấp Bưng C, xã Phú M, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 10 năm 2022, cũng như trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ông Trần Da B trình bày:
Các bị đơn ông Tăng Thanh P và Bà Sơn Thị Hồng N vay vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần B – Phòng giao dịch Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng theo hợp đồng tín dụng số HDTD37B202000359 ký ngày 29 tháng 9 năm 2020, cụ thể như sau: Số tiền vay: 100.000.000 đồng; Thời hạn hiệu lực của hợp đồng cho vay là 48 tháng; Phương thức cho vay: Từng lần; Kỳ hạn trả gốc: Trả hàng tháng vào ngày 15, trả 48 kỳ, mỗi kỳ trả số tiền đều nhau theo phương thức gốc + lãi chia đều các kỳ. Kỳ trả nợ đầu tiên ngày 15 tháng 10 năm 2020; Kỳ hạn trả nợ lãi: Trả hàng tháng cùng kỳ trả nợ gốc; Mục đích sử dụng vốn: Cho vay mua sắm trang thiết bị, nội thất gia đình; Lãi suất: 10,5%/năm; Phương thức áp dụng và điều chỉnh lãi suất: Áp dụng lãi suất cố định theo dư nợ gốc ban đầu (Add-on); Lãi suất phạt quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn; Tài sản bảo đảm: Cho vay không có tài sản bảo đảm.
Từ khi vay đến nay ông Tăng Thanh P và Bà Sơn Thị Hồng N trả nợ gốc được 34.340.883 đồng, trả lãi được 13.366.989 đồng. Đến ngày 20 tháng 02 năm 2023 các bị đơn ông Tăng Thanh P và Bà Sơn Thị Hồng N còn nợ lại nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần B tổng cộng gốc và lãi là 81.055.776 đồng (Trong đó: Tiền gốc vay: 65.659.117 đồng, tiền lãi trong hạn: 11.746.352 đồng, tiền lãi quá hạn: 3.650.307 đồng). Quá trình thực hiện Hợp đồng, Bà Sơn Thị Hồng N và ông Tăng Thanh P đã nhiều lần vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng Thương mại cổ phần B và phía Ngân hàng Thương mại cổ phần B cũng đã nhiều lần đến nhà các bị đơn ông Tăng Thanh P và Bà Sơn Thị Hồng N, gửi thông báo nợ quá hạn cũng như lập nhiều biên bản làm việc nhưng khách hàng vẫn không thanh toán nợ.
Nay Ngân hàng Thương mại cổ phần B yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc các bị đơn Bà Sơn Thị Hồng N và ông Tăng Thanh P phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B đến hết ngày 20 tháng 02 năm 2023 là: 81.055.776 đồng (Trong đó: Tiền gốc vay: 65.659.117 đồng, tiền lãi trong hạn: 11.746.352 đồng, tiền lãi quá hạn: 3.650.307 đồng) và tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa trả từ ngày 21 tháng 02 năm 2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng.
Đối với các bị đơn Bà Sơn Thị Hồng N và ông Tăng Thanh P sau khi Tòa án thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án hợp lệ cho các bị đơn Bà Sơn Thị Hồng N và ông Tăng Thanh P nhưng các bị đơn không có văn bản trả lời cho Tòa án. Sau đó, Tòa án có gửi Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án hai (02) lần nhưng các bị đơn Bà Sơn Thị Hồng N và ông Tăng Thanh P vẫn không tham gia.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần B, buộc các bị đơn Bà Sơn Thị Hồng N và ông Tăng Thanh P phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B đến hết ngày 20 tháng 02 năm 2023 là: 81.055.776 đồng (trong đó: Tiền gốc vay: 65.659.117 đồng, tiền lãi trong hạn: 11.746.352 đồng, tiền lãi quá hạn: 3.650.307 đồng) và tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa trả từ ngày 21 tháng 02 năm 2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Các bị đơn Bà Sơn Thị Hồng N và ông Tăng Thanh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần B khởi kiện yêu cầu các bị đơn Bà Sơn Thị Hồng N và ông Tăng Thanh P trả số tiền tính đến hết ngày 20 tháng 02 năm 2023 đối với Hợp hợp đồng tín dụng số HDTD37B202000359 ký ngày 29 tháng 9 năm 2020 thì các bị đơn Bà Sơn Thị Hồng N và ông Tăng Thanh P còn nợ số tiền gốc là tiền lãi là 81.055.776 đồng (Trong đó: Tiền gốc vay 65.659.117 đồng, tiền lãi trong hạn: 11.746.352 đồng, tiền lãi quá hạn: 3.650.307 đồng) và tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa trả từ ngày 21 tháng 02 năm 2023 cho đến khi trả tất nợ vay theo lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng. Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp dân sự, quan hệ pháp luật để giải quyết là tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử thấy rằng theo Hợp đồng tín dụng số HDTD37B202000359 ký ngày 29 tháng 9 năm 2020 các bị đơn Bà Sơn Thị Hồng N và ông Tăng Thanh P vay số tiền 100.000.000 đồng. Thời hạn vay là 48 tháng; Phương thức cho vay: Từng lần; Kỳ hạn trả gốc: Trả hàng tháng vào ngày 15, trả 48 kỳ, mỗi kỳ trả số tiền đều nhau theo phương thức gốc + lãi chia đều các kỳ. Kỳ trả nợ đầu tiên ngày 15 tháng 10 năm 2020; Kỳ hạn trả nợ lãi: Trả hàng tháng cùng kỳ trả nợ gốc; Mục đích sử dụng vốn: Cho vay mua sắm trang thiết bị, nội thất gia đình; Lãi suất: 10,5%/năm; Phương thức áp dụng và điều chỉnh lãi suất: Áp dụng lãi suất cố định theo dư nợ gốc ban đầu (Add-on); Lãi suất phạt quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn; Tài sản bảo đảm: Cho vay không có tài sản bảo đảm (tín chấp). Ngân hàng Thương mại cổ phần B cung cấp được cho Tòa án Hợp đồng tín dụng số HDTD37B202000359 ký ngày 29 tháng 9 năm 2020; Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ lập ngày 28 tháng 9 năm 2020; Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 37B202000359/001 lập ngày 29 tháng 9 năm 2020 tất cả đều có chữ ký, chữ viết của các bị đơn Bà Sơn Thị Hồng N và ông Tăng Thanh P.
Sau khi ký kết hợp đồng, đối với Hợp đồng tín dụng số HDTD37B202000359 ký ngày 29 tháng 9 năm 2020 các bị đơn Bà Sơn Thị Hồng N và ông Tăng Thanh P đã nhận đủ số tiền 100.000.000 đồng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần B – Phòng giao dịch Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi vay vốn thì các bị đơn Bà Sơn Thị Hồng N và ông Tăng Thanh P đã thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần B được số tiền gốc vay 34.340.883 đồng và tiền lãi 13.366.989 đồng.
Như vậy, có căn cứ xác định các bị đơn Bà Sơn Thị Hồng N và ông Tăng Thanh P có giao kết hợp đồng để vay số tiền 100.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số HDTD37B202000359 ký ngày 29 tháng 9 năm 2020. Các bên tiến hành giao kết Hợp đồng trên nguyên tắc tự nguyện, hình thức và nội dung Hợp đồng tại thời điểm xác lập phù hợp với quy định của pháp luật, lãi suất các bên thỏa thuận phù hợp với với Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Do đó Hợp đồng trên có giá trị pháp lý và buộc các bên phải thực hiện theo đúng hợp đồng. Tuy nhiên, sau khi vay các bị đơn Bà Sơn Thị Hồng N và ông Tăng Thanh P đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo đúng cam kết. Tính đến ngày 20 tháng 02 năm 2023 đối với Hợp đồng tín dụng số HDTD37B202000359 ký ngày 29 tháng 9 năm 2020, các bị đơn Bà Sơn Thị Hồng N và ông Tăng Thanh P chỉ trả được gốc và lãi 47.707.872 đồng, như vậy các bị đơn Bà Sơn Thị Hồng N và ông Tăng Thanh P không thực hiện việc trả vốn và lãi đúng theo thỏa thuận nên đã vi phạm tại Điều 4, Điều 7 của Hợp đồng tín dụng số HDTD37B202000359 ký ngày 29 tháng 9 năm 2020.
Hiện nay các bị đơn Bà Sơn Thị Hồng N và ông Tăng Thanh P còn nợ của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần B tiền gốc và tiền lãi vay tính đến hết ngày 20 tháng 02 năm 2023 đối với Hợp đồng tín dụng số HDTD37B202000359 ký ngày 29 tháng 9 năm 2020, tổng cộng là: 81.055.776 đồng (Trong đó: Tiền gốc vay: 65.659.117 đồng, tiền lãi trong hạn: 11.746.352 đồng, tiền lãi quá hạn: 3.650.307 đồng). Xét thấy, các bị đơn Bà Sơn Thị Hồng N và ông Tăng Thanh P đã nhận tiền gốc vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần B số tiền là 100.000.000 đồng nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả tiền vốn và lãi theo thỏa thuận. Tính đến hết ngày 20 tháng 02 năm 2023 các bị đơn Bà Sơn Thị Hồng N và ông Tăng Thanh P chỉ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B tiền gốc vay được là 34.340.883 đồng còn nợ lại tiền vốn 65.659.117 đồng là vi phạm vào Điều 4 “Trả nợ gốc và lãi” và Điều 7 “Chấm dứt cho vay và thu hồi vốn vay trước hạn” theo Hợp đồng tín dụng số HDTD37B202000359 ký ngày 29 tháng 9 năm 2020 mà giữa nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần B và các bị đơn đã ký kết. Vì vậy, cần buộc các bị đơn Bà Sơn Thị Hồng N và ông Tăng Thanh P phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B số tiền gốc vay còn lại 65.659.117 đồng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về lãi suất: Ngân hàng Thương mại cổ phần B yêu cầu tính lãi suất trong hạn 10,5%/năm. Lãi quá hạn 15,75%/năm. Xét thấy, mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng tại thời điểm xác lập Hợp là phù hợp với quy định của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Do đó yêu cầu tính lãi của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần B là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Cụ thể nợ lãi tính đến hết ngày 20 tháng 02 năm 2023 là 15.396.659 đồng (trong đó: lãi trong hạn: 11.746.352 đồng, lãi quá hạn: 3.650.307 đồng).
Như vậy, tổng số tiền vốn và tiền lãi vay mà các bị đơn Bà Sơn Thị Hồng N và ông Tăng Thanh P phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B là 81.055.776 đồng (Trong đó: Tiền gốc vay: 65.659.117 đồng, tiền lãi trong hạn: 11.746.352 đồng, tiền lãi quá hạn: 3.650.307 đồng).
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần B được chấp nhận nên các bị đơn Bà Sơn Thị Hồng N và ông Tăng Thanh P phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 63; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 463; Điều 466 Bô luật dân sự năm 2015
Căn cứ Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần B.
Buộc các bị đơn Bà Sơn Thị Hồng N và ông Tăng Thanh P có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B số tiền vốn và lãi vay tính đến hết ngày 20 tháng 02 năm 2023 theo Hợp đồng tín dụng số HDTD37B202000359 ký ngày 29 tháng 9 năm 2020 gốc và lãi là: 81.055.776 đồng (tám mươi mốt triệu, không trăm năm mươi lăm nghìn, bảy trăm bảy mươi sáu đồng), cụ thể: Tiền gốc vay: 65.659.117 đồng (sáu mươi lăm triệu, sáu trăm năm mươi chín nghìn, một trăm mười bảy đồng); Tiền lãi trong hạn: 11.746.352 đồng (mười một triệu, bảy trăm bốn mươi sáu nghìn, ba trăm năm mươi hai đồng);
Tiền lãi quá hạn: 3.650.307 đồng (ba triệu, sáu trăm năm mươi nghìn, ba trăm lẻ bảy đồng).
Kể từ ngày 21 tháng 02 năm 2023 các bị đơn Bà Sơn Thị Hồng N và ông Tăng Thanh P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn 15,75%/năm của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất đã thoả thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất các bị đơn Bà Sơn Thị Hồng N và ông Tăng Thanh P phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất Ngân hàng Thương mại cổ phần B.
3. Án phí dân sự sơ thẩm: Các bị đơn Bà Sơn Thị Hồng N và ông Tăng Thanh P phải chịu án phí số tiền 4.052.789 đồng (bốn triệu, không trăm năm mươi hai nghìn, bảy trăm tám mươi chín đồng).
Ngân hàng Thương mại cổ phần B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B số tiền án phí đã nộp là 1.885.103 đồng (một triệu, tám trăm tám mươi lăm nghìn, một trăm lẻ ba đồng) theo biên lai thu số 00075219 ngày 27 tháng 10 năm 2022 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
4. Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Các bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận - Các đương sự; - VKSND huyện Mỹ Tú; - Chi cục THADS huyện Mỹ Tú; - TAND tỉnh Sóc Trăng (Phòng KTNV&THA); - ưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thu Hồng |