vanban.org

Bản án 04/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng gia công

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng gia công — án dân sự — "ông Từ Thanh M với ông Đoàn Văn Đ"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

!!!HUYỆN!THỚI!BÌNH!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Độc!lập!-!Tự!do!-!Hạnh!phúc!
!!!!!!!!TỈNH!CÀ!MAU
Bản án số: 04/2023/DS-ST
Ngày 01 - 02 - 2023
“V/v tranh chấp HĐ gia công”!!!!!!!!!!!!!

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!THỚI!BÌNH,!TỈNH!CÀ!MAU!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Diệp Chí Nguyện

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Quốc Văn

Ông Đinh Chí Hiển

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Như – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Thới Bình.

Trong ngày 01 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 143/2022/TLST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp hợp đồng gia công, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 284/2022/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Từ Thanh M, sinh năm 1973.

Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. (có mặt)

- Bị đơn: Ông Đoàn Văn Đ, sinh năm 1980. (vắng mặt)

Địa chỉ: Khóm B, TT T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo đơn khởi kiện, lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và được bổ sung tại phiên tòa thể hiện:

Ông M là nguyên đơn trình bày: Vào ngày 06/3/2022 (âm lịch), ông có nhận làm gia công (xây nhà mồ) cho nhà ông Đoàn Văn Đ. Thời gian thực hiện khoảng 40 ngày, mỗi ngày 350.000đ. Quá trình làm công ông Đ có thanh toán một phần. Sau khi hoàn thành công việc kết toán và tính tiền công thì ông Đ còn nợ số tiền 8.200.000đ. Từ khi hoàn thành gia công cho đến nay ông Đ không thanh toán số tiền trên.

Qua nhiều lần ông đến nhà ông Đ yêu cầu thanh toán thì ông Đ cứ hẹn hết lần này đến lần khác nhưng không chịu thanh toán. Ông đã làm đơn yêu cầu chính quyền địa phương can thiệp, tại cuộc hòa giải ngày 01/8/2022 ông Đ thừa nhận còn nợ số tiền 8.200.000đ và cam kết đến ngày 01/10/2022 sẽ thanh toán dứt điểm, nhưng đến nay ông Đ vẫn không thực hiện.

Do đó, ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đ có nghĩa vụ thanh toán cho ông số tiền 8.200.000đ, ngoài ra không yêu cầu gì khác.

Ông Đ là bị đơn: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Đ và ông Đ biết được yêu cầu khởi kiện của ông M nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do, không có gửi ý kiến bằng văn bản của mình gửi Tòa án biết về nội dung yêu cầu khởi kiện của ông M.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử cho đến khi mở phiên tòa các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TOÀ!ÁN:!

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào lời trình bày của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và bổ sung tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét đơn yêu cầu của nguyên đơn là ông Từ Thanh M với bị đơn là ông Đoàn Văn Đ thuộc lĩnh vực dân sự, tranh chấp hợp đồng gia công; Ông Đ là bị đơn có địa chỉ cư trú tại khóm B, TT T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thới Bình theo quy định tại Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự nhưng ông Đ là bị đơn vắng mặt không rõ lý do đến lần thứ 2 nên Tòa án vẫn tiến hành phiên tòa xét xử theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung vụ án: Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa ông M với ông Đ được xác định là tranh chấp hợp đồng gia công. Khi giao kết hợp đồng cả hai bên chỉ thỏa thuận miệng, không có xác lập hợp đồng bằng văn bản, nhưng khi xảy ra tranh chấp địa phương có mời hòa giải. Tại biên bản hòa giải ngày 01/8/2022 thể hiện ông Đ thừa nhận còn nợ ông M số tiền 8.200.000đ và có cam kết thời gian thanh toán nợ vào ngày 01/10/2022.

Như vậy, căn cứ vào biên bản hòa giải ngày 01/8/2022 tại địa phương và biên bản xác minh ngày 31/7/2022 đủ cơ sở xác định ông Đ còn nợ ông M số tiền là 8.200.000đ (Tám triệu, hai trăm ngàn đồng) nên ông Đ có nghĩa vụ thanh toán cho ông M là có cơ sở.

Về lãi suất ông M xác định không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Từ nhận định trên, cần buộc ông Đ có nghĩa vụ thanh toán cho ông M số tiền còn nợ là 8.200.000đ (Tám triệu, hai trăm ngàn đồng).

Hiện ông Đ không có gửi tài liệu, chứng cứ và ý kiến để xác định đã thanh toán khoản nợ này. Trường hợp ông Đ có chứng cứ đã thanh toán cho ông M khoản tiền trên và có tranh chấp thì có quyền yêu cầu, khởi kiện thành vụ án dân sự khác để đối trừ.

[5] Do yêu cầu của ông M được chấp nhận nên ông Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT!ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 357, 542 của Bộ luật Dân sự;

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Từ Thanh M đối với ông Đoàn Văn Đ.

Buộc ông Đoàn Văn Đ có nghĩa vụ thanh toán cho ông Từ Thanh M số tiền là 8.200.000đ (Tám triệu, hai trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày ông M có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Đ không thực hiện nghĩa vụ thanh toán xong khoản tiền nêu trên thì còn phải chịu lãi suất chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2/ Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Ông Đoàn Văn Đ phải nộp án phí số tiền 410.000đ (chưa nộp).

Ông M không phải nộp án phí sơ thẩm. Vào ngày 10/10/2022 ông M đã dự nộp số tiền 300.000đ tại lai số 0003006 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, được nhận lại khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ông M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM

Cỡ chữ