vanban.org

Bản án 04/2022/QĐ-PT — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 10/01/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của chị S. Hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 68/2021/QĐST-DS ngày 28 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố TN, giao hồ sơ về Tòa án nhân dân thành phố TN để tiếp tục giải quyết vụ án.

Về án phí: Chị S không phải chịu án phí phúc thẩm, được trả lại 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0000568 ngày 18/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TN. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "DSPT Đỗ Thị N - Nguyễn Văn D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của chị S. Hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 68/2021/QĐST-DS ngày 28 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố TN, giao hồ sơ về Tòa án nhân dân thành phố TN để tiếp tục giải quyết vụ án.
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2022/QĐ-PTThái Nguyên, ngày 10 tháng 01 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Minh Lý

Các Thẩm phán: Bà Dương Thị Liên và ông Nguyễn Văn Quế

Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Hương Giang - Kiểm sát viên.

Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 68/2021/QĐST-DS ngày 28 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố TN đã căn cứ vào Điều 48, Điều 217; Điều 218, Điều 219 và Khoản 4 Điều 157 và khoản 2 Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất giữa;

Nguyên đơn: Bà Ng, sinh năm 1917 (đã chết)

Địa chỉ: Tổ 10, phường TV, TP. TN, tỉnh Thái Nguyên

Bị đơn: Anh D, sinh năm 1956

Địa chỉ: Tổ 34, phường QT, TP. TN, tỉnh Thái Nguyên

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh D1, sinh năm 1947, hiện nay không rõ địa chỉ

Anh C, sinh năm 1950

Địa chỉ: Số 02/12/8 đường HT, phường 8, thành phố V, tỉnh Bà Rịa Vũng Tầu

Chị Bùi Thị S, sinh năm 1964

Chị Bùi Thị Ch, sinh năm 1966

Anh Bùi Văn M, sinh năm 1970

Đều trú tại: Tổ 10, phường TV, TP. TN, tỉnh Thái Nguyên

Ngày 11/10/2021 chị S kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 68/2021/QĐST-DS ngày 28 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố TN vì lý do Thẩm phán ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án không căn cứ theo quy định của pháp luật, do đó quyền và lợi ích hợp pháp của bà Ngóng và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bị xâm phạm nên chị đề nghị hủy toàn bộ quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nêu trên.

XÉT THẤY:

Xét kháng cáo của chị S, Hội đồng phiên họp thấy rằng: Bà Ng khởi kiện yêu cầu buộc anh D và chị H trả lại 146m2 đất thuộc thửa 290, tờ bản đồ số 27, thuộc tổ 21 (nay là tổ 10), phường TV, thành phố TN và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND thành phố TN cấp cho anh D, chị H ngày 04/6/2002, Tòa án nhân dân thành phố TN thụ lý vụ án kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất. Trong quá trình giải quyết, ngày 22/9/2011, bà Ng chết. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 217 của Bộ Luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự với lý do nguyên đơn chết mà quyền và nghĩa vụ của họ không được thừa kế đầy đủ.

Theo điểm a khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự "nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế" Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Tuy nhiên, trong vụ án này, Bà Ngvà ông Đ đều đã chết và có 06 người con (Ngoài bị đơn anh D còn có 05 người con khác là: Anh D1, chị Ch, chị S, anh C và anh M). Chị S tiếp tục đề nghị Tòa án giải quyết theo đơn khởi kiện của bà Ng buộc anh D, chị H trả lại 146m2 đất. Như vậy, bà Ng là nguyên đơn đã chết nhưng quyền, nghĩa vụ của bà Ng được các con của bà Ng kế thừa nênTòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án là ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nên kháng cáo của chị S có căn cứ chấp nhận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên họp phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp và Hội đồng phiên họp phúc thẩm từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng phiên họp phúc thẩm căn cứ điểm c khoản 5 Điều 314 và Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 68/2021/QĐST-DS ngày 28 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố TN là có căn cứ

Từ sự phân tích triên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 5 Điều 314, Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận kháng cáo của chị S. Hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 68/2021/QĐST-DS ngày 28 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố TN, giao hồ sơ về Tòa án nhân dân thành phố TN để tiếp tục giải quyết vụ án.

2. Về án phí: Chị S không phải chịu án phí phúc thẩm, được trả lại 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0000568 ngày 18/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TN.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.

Cỡ chữ