vanban.org

Bản án 04/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên Tuyên án 19/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoài T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Hoài T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù kể từ ngày bị cáo thi hành án. Về xử lý vật chứng, đồ vật tạm giữ: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoài T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2022/HSST
Ngày: 19-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mộng Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Pháp và ông Nguyễn Xuân Chí

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Thị Hàn Ni - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở TAND huyện T, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2021/TLST-HS ngày 29/11/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2021/QĐXXST-HS ngày 31/12/2021 đối với bị cáo:

Lê Hoài T, sinh ngày 28/01/1994; nơi sinh và cư trú: Khu phố N, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Lê Văn Đ, sinh năm 1954 (chết) và bà Trần Thị H, sinh năm 1963; có 01 anh (chết) và 02 chị, chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 03/9/2021, bị Công an thị trấn C, huyện S xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác. Bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Bị hại: Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 2001 (chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Quang H, sinh năm 1968; Trú tại: Thôn P, xã Hòa P, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Võ Ngọc L, sinh năm 1976

Trú tại: 146 Nguyễn Hào S, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

2. Trương Thị H, sinh năm 1973

Trú tại: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

3. Lê Thành N, sinh năm 1998

Trú tại: Thôn X, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Phan Quốc Đ, sinh năm 1972

Trú tại: Khu phố P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

2. Lương Văn T, sinh năm 1970

Trú tại: Khu phố P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

3. Trương Hồng T, sinh năm 1955

Trú tại: Khu phố P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 20 phút ngày 17/9/2021, Lê Hoài T điều khiển xe ô tô tải biển số 78C-077.04 (do nhà xe Y là chủ sở hữu) lưu hành trên đường Quốc lộ 29, khi đến Km 42+ 420m thuộc khu phố P, thị trấn P, huyện T, Lê Hoài T thấy có một máy gặt lúa liên hợp đang lưu hành phía trước cùng chiều, lúc này T điều khiển xe ô tô đi sang phần đường bên trái tính theo hướng lưu hành để vượt lên máy gặt lúa liên hợp. Lúc này ở phần đường ngược chiều có Nguyễn Thị Thu Th (không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô biển số 78F1 - 412.77 (do Trương Thị H, mẹ ruột của Th làm chủ sở hữu) lưu hành hướng ngược chiều chạy đến. Thấy xe ô tô tải của Trông điều khiển lấn sang hết phần đường của xe ngược chiều nên Th điều khiển xe đi vào phần lề đường đất và thắng xe dừng lại. Trong lúc thắng xe, Th và xe mô tô té ngã xuống đường thì bị bánh trước bên trái xe ô tô do T điều khiển dẫm lên người Th và xe mô tô, hậu quả làm Th chết tại chỗ, xe mô tô hư hỏng nặng.

Theo Kết luận giám định số 275/GĐPY-PC09 ngày 23/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Yên kết luận: Chị Nguyễn Thị Thu Th chết do đa chấn thương, vỡ não, giập phòi não – chết.

Theo Bản kết luận định giá tài sản số 44/KL-HĐ ĐGTS ngày 10/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản, kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô tô 78F1-412.77 là 8.394.000 đồng.

Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của chị Nguyễn Thị Thu Th là 117.22mg/100ml máu.

Về vật chứng, đồ vật tạm giữ: Đã trả lại cho chủ sở hữu 01 xe ô tô tải biển số 78C-077.04 và 01 xe mô tô biển số 78F1-412.77.

Đang tạm giữ 01 giấy phép lái xe hạng C tên Lê Hoài T.

Về dân sự: Bị cáo Lê Hoài T đã bồi thường cho gia đình bị hại Nguyễn Thị Thu Th số tiền 168.000.000 đồng; Nhà xe Y đã hỗ trợ số tiền 140.000.000 đồng. Ông Nguyễn Quang H là người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận tổng số tiền 308.000.000đồng và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Bản cáo trạng số 36/CT-VKSTH ngày 26 tháng 11 năm 2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố bị cáo Lê Hoài T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của VKSND huyện T đã truy tố là đúng, không oan.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, giữ nguyên cáo trạng; đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo mức từ 09 đến 12 tháng tù, thời hạn từ kể từ ngày bị cáo thi hành án.

Về dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì nên xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 BLTTHS, trả lại giấy phép lái xe cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi, mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra Công an điều tra đã tiến hành lấy lời khai đầy đủ, các đương sự không có yêu cầu gì, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Hoài T tại phiên tòa phù hợp với các biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn, bản ảnh hiện trường, kết luận giám định về nguyên nhân chết của bị hại cùng các chứng cứ khác có tại hồ sơ nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 06 giờ 20 phút ngày 17/9/2021, tại Km 42 + 420, Quốc lộ 29 thuộc Khu phố P, thị trấn P, huyện T, bị cáo Lê Hoài T điều khiển xe ô tô tải biển số 78C-077.04 lưu hành theo hướng Đông – Tây, lấn sang phần đường dành cho xe ngược chiều nên đã tông vào xe mô tô biển số 78F1-412.77 do chị Nguyễn Thị Thu Th điều khiển, hậu quả là chị Th chết do đa chấn thương, vỡ não; Xe mô tô bị thiệt hại 8.394.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng VKSND huyện T truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bị cáo Lê Hoài T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng và tài sản của người khác trái pháp luật, đồng thời làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương. Do đó phải xử nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo và nhà xe Y đã bồi thường cho gia đình bị hại với tổng số tiền 308.000.000đ, được đại diện của bị hại làm đơn miễn trách nhiệm hình sự đây là tình tiết giảm nhẹ đặc biệt; bị cáo có ông ngoại là liệt sỹ, thuộc diện gia đình chính sách có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo đã tham gia hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Bị hại cũng có một phần lỗi đã điều khiển xe mô tô khi trong người có nồng độ cồn 117.22mg/100ml máu (vượt gấp hai lần) mức quy định và không có giấy phép lái xe. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 BLHS, nên áp dụng Điều 54 BLHS để xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục tốt, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi tội phạm và hậu quả do bị cáo gây ra.

Bị cáo Lê Hoài T không có chức vụ, nghề nghiệp hoặc công việc ổn định, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu gì nên HĐXX không xét.

Về vật chứng vụ án, đồ vật tạm giữ:

Đã trả lại cho chủ sở hữu 01 xe ô tô tải biển số 78C-077.04 và 01 xe mô tô biển số 78F1-412.77 nên không xét.

Đối với giấy phép lái xe hạng C xét đây không phải là vật chứng của vụ án nên cần trả lại cho bị cáo như đề nghị của VKS là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoài T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Hoài T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù kể từ ngày bị cáo thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng, đồ vật tạm giữ:

Trả lại cho bị cáo Lê Hoài T 01 giấy phép lái xe hạng C (Giấy phép lái xe hiện đang tạm giữ tại hồ sơ vụ án).

3.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Lê Hoài T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.

Cỡ chữ