vanban.org

Bản án 04/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 24/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

1/ Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Minh T 07 (bảy) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Minh T Tàng trữ trái phép và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA SÚP
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 04/2022/HSST.
Ngày 24/11/2022.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA SÚP, TỈNH ĐẮK LẮK.

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán, Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bành Trọng Bình và ông Nguyễn Ngọc Phú.

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Nguyên Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Phong – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24/11/2022 tại Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2022/HSST ngày 13/10/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2022/QĐXXST- HS ngày 09/11/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Minh T, sinh năm 1984, tại tỉnh Bến Tre;

Nơi cư trú: Thôn D, xã I, huyện E, tỉnh Đắk Lắk;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 06/12;

Con ông Lê Minh Tr, sinh năm 1965 và bà Phạm Thị Lệ D, sinh năm 1967.

Vợ bị cáo Trần Thị P, sinh năm 1979, có 01 con, sinh năm 2012.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/6/2022 hiện đang bị tạm giam (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phùng Văn H– Trợ giúp viên, trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đắk Lắk (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Trần Thị Ph, sinh năm 1979. Địa chỉ: Thôn D, xã I, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).

- Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1960. Địa chỉ: Thôn D, xã I, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).

- Bà nguyễn Thị Ngọc K, sinh năm 1947 (vắng mặt). Địa chỉ: khu phố 4, thị trấn C, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Người làm chứng:

- Anh Quang Văn Nh, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Thôn T, xã I, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).

- Anh Võ Thành N, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Thôn 6, xã I, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Minh T là người sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 28/05/2022 T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, có thuê bao 0349.368.550 của mình liên lạc qua điện thoại với một người đàn ông tên T1, ở TP.Hồ Chí Minh, sử dụng số điện thoại 0931.947.670 hỏi mua 5.000.000 đồng ma túy, T1 đồng ý bán, T và T1 thỏa thuận chuyển tiền mua bán ma túy qua tài khoản ngân hàng của T1.

Đến ngày 29/05/2022, Lê Minh T nhờ vợ là chị Trần Thị P chuyển giúp số tiền 5.000.000đồng qua số tài khoản của T1. Chị P chuyển 5.000.000 đồng qua dịch vụ Internet Banking, (chị không biết T chuyển tiền để mua ma túy). Sau khi chuyển tiền, T1 trao đổi với T qua điện thoại di động về việc gửi ma túy cho T qua nhà xe Đ chuyến TP.Hồ Chí Minh đi huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Sáng ngày 30/05/2022, Lê Minh T đi nhờ xe của người đi đường (không xác định được tên, tuổi) ra xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk để nhận hàng. Sau khi nhận hàng từ nhà xe Đ, T đi về và mở hộp giấy ra có 01 ổ cắm điện, bên trong ổ cắm điện có 03 gói nylon, bên trong 03 gói nylon đều chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể, biết đây là ma túy, nên cất giấu 02 gói ma túy ở trong phòng ngủ, gói còn lại T cất giấu trong lỗ gạch dưới chân bồn nước trong chuồng gà, mục đích cất giấu ba gói ma túy để sử dụng dần cho bản thân.

Đến khoảng 12 giờ ngày 02/06/2022, Lê Minh T đang ở nhà tại thôn D xã Ia L, huyện E, tỉnh Đắk Lắk thì có Võ Thành N, (sinh năm 1987, trú tại thôn 06, xã I, huyện E) đến nhà chơi.

Khoảng 10 phút sau có Quang Văn Nh, (sinh năm 1991, trú tại thôn T, xã I, huyện E) cũng đi đến nhà T chơi, lúc này T nảy sinh ý định sử dụng trái phép chất ma túy cùng với N và Nh, Lê Minh T một mình đi xuống chuồng nuôi gà, lấy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, gồm: 01 lọ nhựa, có nắp đậy, trên nắp đậy có đục 02 lỗ tròn, một lỗ gắn ống thủy tinh làm nồi nấu ma túy đá. Khi đã chuẩn bị xong, T gọi N và Nh xuống chuồng gà mục đích cho sử dụng ma túy đá cùng ( không có mục đích mua bán).

Tại chuồng gà, Lê Minh T, Võ Thành N và Quang Văn Nh ngồi lại. Lê Minh T tự đốt, hút ma túy đá vào cơ thể mình, tiếp đến là Nh hút ma túy đá xong, Nh liền đưa dụng cụ hút ma túy cho Võ Thành Nh, N đang chuẩn bị hút ma túy, thì bị lực lượng Bộ đội biên phòng, thuộc Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Đắk Lắk cùng với với Phòng cảnh sát ma túy Công an tỉnh Đắk Lắk bắt quả tang thu giữ của Lê Minh T: 01 gói nylon trong suốt có viền màu đỏ, bên trong có 01 miếng nylon trong suốt và chất rắn màu trắng dạng tinh thể, (T khai đó là ma túy đá); 01 lọ nhựa có in chữ VITAMINB1 màu đỏ, nắp màu trắng, có đục 02 lỗ gắn ống hút nhựa và ống thủy tinh có một hình cầu; 01 quẹt ga, 01 bao thuốc lá nhãn hiệu “WARHORSE” đã bị nhàu rách; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, có số sim: 0349368550.

Phát hiện và thu giữ trong túi áo của Quang Văn Nh có 01 gói nylon trong suốt có viền đỏ, chứa 01 gói ny lon trong suốt có viền xanh, 04 đoạn ống nhựa, bên trong ống nhựa có chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể ( Nh khai là ma túy đá).

Biên bản khám xét hồi 18 giờ 00 phút ngày 02/06/2022 lực lượng Bộ đội biên phòng, thuộc Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Đắk Lắk thu giữ tại chỗ ở của Lê Minh T: 02 gói nylon chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể.

Bản kết luận giám định số: 86 ngày 03/06/2022 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Phong bì ký hiệu M1: ( của Lê Minh T) Chất rắn màu trắng dạng tinh thể đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 1, 4531 gam, loại: Methamphetamine. Phong bì ký hiệu M2: (của Quang Văn Nh) Chất rắn màu trắng dạng tinh thể đựng trong 01 gói nylon trong suốt viền xanh được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,0541 gam, loại: Methamphetamine. Phong bì ký hiệu M3: ( của Lê Minh T) Chất rắn màu trắng dạng tinh thể đựng trong 02 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 7,7747, loại: Methamphetamine.

Tài liệu, đồ vật bị tạm giữ gồm:

- 01 gói nylon trong suốt có viền màu đỏ, bên trong có 01 miếng nylon trong suốt và chất rắn màu trắng dạng tinh thể.

- 01 lọ nhựa có in chữ VITAMINB1 màu đỏ, nắp màu trắng có đục 02 lỗ gắn ống hút nhựa và ống thủy tinh có một hình cầu.

- 01 quẹt ga, 01 bao thuốc lá nhãn hiệu “WARHORSE” đã bị nhàu rách.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, có số sim: 0349368550.

- 01 gói nylon trong suốt có viền đỏ, chứa 01 gói ny lon trong suốt có viền xanh, 04 đoạn ống nhựa và chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể.

- 02 gói ny lon chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể.

- 02 gói ny lon trong suốt, bên trong có chứa chất dẻo màu nâu.

- Đối với người đàn ông tên T1, tại TP.Hồ Chí Minh, bán ma túy cho Lê Minh T với số tiền 5.000.000 đồng vào ngày 28/05/2022. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện E đã tiến hành xác minh. Xác định được người tên Lý Bảo T1, (sinh năm 1989, chỗ ở hiện nay: Khu phố B, phường B, Quận T, TP.Hồ Chí Minh). Tuy nhiên, hiện nay Lý Bảo T1 không có mặt tại địa phương, không xác định được hiện nay T1 đi đâu và làm gì. Cơ quan cảnh sát điều tra chưa ghi lời khai được với Lý Bảo T1 nên chưa có căn cứ để xử lý. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp tách ra tiếp tục điều tra, xác minh, nếu có căn cứ thì xử lý theo quy định của pháp luật sau.

- Đối với Quang Văn Nh có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy khối lượng: 0,0541 gam, loại Methamphetamine để sử dụng, không có hành vi mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, nhân thân chưa có tiền án về các tội phạm ma túy, chưa có tiền sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Khối lượng ma túy thu giữ của Quang Văn Nh chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự. Nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện E ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

- Đối với bà Trần Thị P (vợ của Lê Minh T) là người chuyển số tiền 5.000.000 đồng cho người bán ma túy. Tuy nhiên, bà P không biết số tiền trên là tiền T mua ma túy, không tham gia tàng trữ trái phép ma túy, không tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng với Lê Minh T nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện E không xử lý.

- Đối với bà Nguyễn Thị Ngọc K (chủ nhà xe Đ) không biết hộp giấy gửi cho Lê Minh T bên trong chứa ma túy. Nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện E không xử lý.

- Đối với người đàn ông tên H đã bán ma túy cho Quang Văn Nh. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện E đã tiến hành xác minh. Tuy nhiên không xác định được người tên H, nên không có căn cứ để xử lý.

- Căn nhà và chuồng gà ngày 02/06/2022 Lê Minh T tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy, đây là tài sản của ông bà Trần Văn P và Trần Thị Đ ( là bố mẹ vợ của Lê Minh T) việc Lê Minh T tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy, vợ chồng ông P và bà Đ không biết, nên không có căn cứ để xử lý.

Tại Bản cáo trạng số 47/CT-VKS ngày 12/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Lê Minh T về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà hôm nay bị cáo Lê Minh T khai nhận toàn bộ hành vi do bị cáo thực hiện phù hợp với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện E và không có ý kiến gì.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, đánh giá, phân tích tính chất vụ án, những chứng cứ xác định hành vi phạm tội, về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Lê Minh T từ 06 (sáu) năm tù đến 07 (bảy) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Lê Minh T từ 08 (tám) năm tù đến 09 (chín) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

+ Áp dụng điều Điều 55 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt chung của hai tội bị cáo Lê Minh T phải chấp hành là 14 (mười bốn) năm tù đến 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/6/2022.

+ Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo thuộc hộ nghèo, sinh sống tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thu nhập không ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Về các biện pháp tư pháp:

- Xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại sau giám định gồm: - 01 gói nylon trong suốt có viền màu đỏ, bên trong có 01 miếng nylon trong suốt và chất rắn màu trắng dạng tinh thể.

- 01 lọ nhựa có in chữ VITAMINB1 màu đỏ, nắp màu trắng có đục 02 lỗ gắn ống hút nhựa và ống thủy tinh.

- 01 quẹt ga, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “WARHORSE” đã bị nhàu rách.

- 03 phong bì niêm phong ghi lần lượt phong bì: M1; M2; M3 ban đầu mẫu vật còn lại sau giám định vụ Lê Minh T “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Có các chữ ký, họ và tên của Lê Khắc N, Nguyễn Phi L và đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Đắk Lắk (theo kết luận giám định số 86/KL-KTHS ngày 03/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk); bên trong chứa chất ma túy loại Methamphetamine: lần lượt: Gói M1 là 1,3838gam; Gói M2 là 0,0350gam; Gói M3 là 7,4528gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu.

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, có gắn sim.

Bị cáo không tranh luận.

- Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Về tội danh, điều luật áp dụng đồng ý với bản luận tội của Viện kiểm sát, về mức hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo cụ thể: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ea Súp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo Lê Minh T tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng 12 giờ, ngày 02 tháng 06 năm 2022 tại thôn D, xã Ia, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, Lê Minh T có hành vi tổ chức cho Quang Văn Nh ( sinh năm 1991) và Võ Thành N (sinh năm 1987) sử dụng trái phép chất ma túy, loại: Methamphetamine. Lê Minh T còn có hành vi tàng trữ trái phép ma túy, khối lượng ma túy thu giữ: 9,2278 gam, loại: loại: Methamphetamine thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Xét hành vi do bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trị an tại địa phương. Xét bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện E tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lê Minh T đã phạm vào các tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ từ 05 năm đến 10 năm

g) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR - 11 có khối lượng từ 0,5 gam đến dưới 30 gam.

Tại Điều 255 Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định:

1.Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

b) Đối với 02 người trở lên;

…

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Xét thấy trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thật thà khai báo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về áp dụng hình phạt đối với các bị cáo: Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về các biện pháp tư pháp:

- Về xử lý vật chứng: Các loại vật chứng thu giữ và sau khi giám định còn lại gồm:

- 01 gói nylon trong suốt có viền màu đỏ, bên trong có 01 miếng nylon trong suốt và chất rắn màu trắng dạng tinh thể.

- 01 lọ nhựa có in chữ VITAMINB1 màu đỏ, nắp màu trắng có đục 02 lỗ gắn ống hút nhựa và ống thủy tinh.

- 01 quẹt ga, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “WARHORSE” đã bị nhàu rách.

- 03 phong bì niêm phong ghi lần lượt phong bì: M1; M2; M3 ban đầu mẫu vật còn lại sau giám định vụ Lê Minh T “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Có các chữ ký, họ và tên của Lê Khắc N, Nguyễn Phi L và đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk (theo kết luận giám định số 86/KL-KTHS ngày 03/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk); bên trong chứa chất ma túy loại Methamphetamine: lần lượt: Gói M1 là 1,3838gam; Gói M2 là 0,0350gam; Gói M3 là 7,4528gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu. Xét các loại vật chứng này không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy. Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, có gắn sim còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo thuộc hộ nghèo, sinh sống tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo nên được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

1/ Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Lê Minh T 07 (bảy) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2/ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Lê Minh T 09 (chín) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

3/ Áp dụng điều Điều 55 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt chung của hai tội bị cáo Lê Minh T phải chấp hành là 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/6/2022.

4/ Về các biện pháp tư pháp:

+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy gồm:

- 01 gói nylon trong suốt có viền màu đỏ, bên trong có 01 miếng nylon trong suốt và chất rắn màu trắng dạng tinh thể.

- 01 lọ nhựa có in chữ VITAMINB1 màu đỏ, nắp màu trắng có đục 02 lỗ gắn ống hút nhựa và ống thủy tinh.

- 01 quẹt ga, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “WARHORSE” đã bị nhàu rách.

- 03 phong bì niêm phong ghi lần lượt phong bì: M1; M2; M3 ban đầu, mẫu vật còn lại sau giám định vụ Lê Minh T “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Có các chữ ký, họ và tên của Lê Khắc N, Nguyễn Phi L và đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk (theo kết luận giám định số 86/KL-KTHS ngày 03/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk); bên trong chứa chất ma túy loại Methamphetamine: lần lượt: Gói M1 là 1,3838gam; Gói M2 là 0,0350gam; Gói M3 là 7,4528gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu. Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA có gắn sim (vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Ea Súp và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ea Súp ngày 11/11/2022).

5/ Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

6/ Về án phí: Áp dụng Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo Lê Minh T được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.

7/ Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thâm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ