- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Tuấn T - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI ___________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2022/HSPT Ngày 17- 01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
-------------------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Bình
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng; Ông Đỗ Văn Hiên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Vương - Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Tạ Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 106/2021/TLPT-HS ngày 10 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo Đinh Tuấn A, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 21/2021/HSST ngày 27 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện I, tỉnh Gia Lai.
* Bị cáo có kháng cáo:
Đinh Tuấn A; Sinh ngày: 21/4/1994 tại tỉnh Gia Lai; Nơi cư trú: Thôn Bình Hòa, xã Chư Răng, huyện I, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Văn H, sinh năm 1964 và con bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1966. Gia đình bị cáo có 03 anh em, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1994, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Ngày 10/01/2020 bị truy nã theo Quyết định truy nã bị can số 01/QĐTN của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện I. Ngày 21/5/2021 ra đầu thú. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/5/2021 đến ngày 30/5/2021 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;
Nhân thân bị cáo: Ngày 01/01/2014 bị xử phạt hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích” với số tiền 1.000.000 đồng. (Đã chấp hành xong)
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ ngày 26/11/2019, bị cáo Đinh Tuấn A đã dùng 30.000 đồng tham gia đánh bạc cùng với các con bạc gồm Ngô Thị H, Hiao H, Nguyễn Trung H, Ngô Thị Bích Ng, Trần Văn T, Nguyễn Thị N, Phạm Văn D, Phạm Thị H, Ngô Thanh B, Nguyễn Quang T, Nguyễn Văn T và Phạm Văn D và một số đối tượng khác (không rõ nhân thân lai lịch) dưới hình thức bầu cua thắng thua bằng tiền tại sân bê tông có mái che phía sau nhà chị Nguyễn Thị Thu T. Quá trình điều tra, tất cả các đối tượng đều khai nhận có tham gia đánh bạc. Tuy nhiên, bị cáo Đinh Tuấn A trong quá trình điều tra và lời khai đầu tại phiên tòa sơ thẩm thừa nhận đã dùng số tiền 30.000 đồng để đánh bạc nhưng sau đó bị cáo lại không thừa nhận hành vi phạm tội. Tổng số tiền mà bị cáo Đinh Tuấn A và các con bạc dùng để đánh bạc là 14.210.000 đồng.
Hình thức đánh bạc “xóc bầu cua” được các con bạc quy định mỗi ván người cầm cái để 03 quân vị (hạt bầu cua) lên đĩa, úp bát lại và tiến hành xóc rồi đặt xuống, những người tham gia đánh bạc đặt tiền cược lên tấm bìa cát tông ở các ô bầu, cua, tôm, cá, gà, nai theo ý của mình để ăn thua với cái và số tiền đặt thấp nhất mỗi ván từng con bạc đặt từ 10.000 đồng đến 300.000 đồng. Mỗi ván chơi không nhất thiết tất cả mọi người cùng đặt tiền, nên tổng số tiền đặt trong một ván của các con bạc đặt thấp nhất khoảng 200.000 đồng và đặt cao nhất khoảng 600.000 đồng. Sau khi các con bạc chọn ô đặt tiền xong thì cái mở bát ra nếu mặt trên của các quân vị tương ứng với hình tại ô các con bạc đặt tiền thì cái phải chung tiền cho người đặt và ngược lại.
Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 21/2021/HSST ngày 27 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện I, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Đinh Tuấn A phạm tội “Đánh bạc”
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Tuấn A 07 (Bảy) tháng tù, được khấu trừ thời gian bị bắt tạm giữ từ ngày 21/5/2021 đến ngày 30/5/2021. Thời hạn tù tính từ ngày có biên bản bắt thi hành án.
Về hình phạt bổ sung:
Xử phạt: Bị cáo Đinh Tuấn A 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định hình phạt bổ sung, nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo của bị cáo theo luật định.
Kháng cáo của bị cáo: Ngày 05/11/2021, bị cáo Đinh Tuấn A kháng cáo xin hưởng án treo.
Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Đinh Tuấn A trình bày: Bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, kêu oan, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo không cung cấp thêm chứng cứ gì mới.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Mức án Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là nặng so với hành vi của bị cáo.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Bị cáo Đinh Tuấn A đã sử dụng 30.000 đồng để tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức xóc bầu cua vào ngày 26/11/2019. Sau khi phạm tội bị cáo đã bỏ trốn gây khó khăn cho việc điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định truy nã nên theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo thì bị cáo thuộc trường hợp không cho hưởng án treo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Đinh Tuấn A không thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Tuy nhiên, căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của các con bạc là Nguyễn Thị N, Ngô Thanh B, Phạm Văn D, Phạm Thị H, Ngô Thị Bích Ng, Nguyễn Trung H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và căn cứ vào các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ khẳng định: Khoảng 10 giờ ngày 26 tháng 11 năm 2019, tại sân bê tông có mái che phía sau nhà chị Nguyễn Thị Thu T, bị cáo Đinh Tuấn A đã dùng 30.000 đồng cùng với Ngô Thị H, Hiao H, Nguyễn Trung H, Ngô Thị Bích Ng, Trần Văn T, Nguyễn Thị N, Phạm Văn D, Phạm Thị H, Ngô Thanh B, Nguyễn Quang T, Nguyễn Văn Tân, Phạm Văn D và một số đối tượng khác (không rõ nhân thân lai lịch) đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức xóc bầu cua. Tổng số tiền mà Đinh Tuấn A cùng các đối tượng khác sử dụng vào mục đích đánh bạc là 14.210.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đinh Tuấn A phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, thấy rằng: sau khi thực hiện hành vi đánh bạc, bị cáo đã bỏ trốn khỏi địa phương gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố nên cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định truy nã đối với bị cáo; Theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo thì bị cáo bị truy nã nên thuộc trường hợp không cho hưởng án treo.
Bị cáo không thành khẩn khai báo, không nhận thức được mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của mình, vì vậy khi lượng hình, Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt 07 (bảy) tháng tù là thoả đáng, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đảm bảo tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Bị cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 21/2021/HSST ngày 27 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện I, tỉnh Gia Lai.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Tuấn A 07 (Bảy) tháng tù, được khấu trừ thời gian bị bắt tạm giữ từ ngày 21/5/2021 đến ngày 30/5/2021. Thời hạn tù tính từ ngày có biên bản bắt thi hành án.
Về hình phạt bổ sung:
Xử phạt: Bị cáo Đinh Tuấn A 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đinh Tuấn A phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Gia Lai; - TAND huyện I; - Công an huyện I; -Chi cục THA huyện I; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, Tòa hình sự, VT. 4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào lúc giờ phút, ngày 10 tháng 2 năm 2020 Tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Bình; ngày 24 tháng 12 năm 2019 đối với: huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xử phạt về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS với mức hình phạt là 08 tháng tù Căn cứ Điều 299, Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: 1.Về tội danh, hình phạt: -Ý kiến của Thẩm phán thứ nhất: không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 36/2019/HSST ngày 31/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai. 52, Điều 15, Điều 57 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Thị Thảo 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt kiến nêu trên của thẩm phán thứ nhất Biểu quyết 3/3 thành viên đồng ý; không đồng ý: không 2. Về án phí: - Ý kiến của Thẩm phán thứ nhất: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Đặng Thị Thảo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. ý kiến nêu trên của thẩm phán thứ nhất Biểu quyết 3/3 thành viên đồng ý; không đồng ý: không đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Biểu quyết 3/3 thành viên đồng ý; không đồng ý: không Nghị án kết thúc vào hồi....giờ...phút ngày.... tháng 2 năm 2020 này, công nhận biên bản ghi đúng nội dung nghị án trước khi ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Bị cáo không đánh bạc vào ngày 26/1/2019 mà do những người chơi đánh bạc thù hằn với bị cáo nên mới khai bị cáo đánh bạc khi bị bắt quả tang. Việc cơ quan cảnh sát điều tra ra quyết định truy nã bị cáo mà không gửi quyết định truy nã cho cha mẹ bị cáo nên bị cáo không biết mình bị truy nã. Ngoài ra bị cáo còn cho rằng trong quá trình điều tra bị cáo bị ép cung nhục hình như khóa hai tay và bằng nhiều hình thức khác dẫn đến sức khỏe của bị cáo không chịu đựng nổi kèm theo là điều tra viên Lộc nói với bị cáo: “ cứ nhận đánh một ván 30.000 đồng thì sẽ tha luôn nếu không sẽ bị giam tiếp 3 tháng nữa” nên bị cáo đã thừa nhận là chơi 30.000 đồng vào ô bầu cua | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Võ Văn Bình THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng; Bà Đinh Thị Như Phượng Tiến hành nghị án vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 113/2019/TLPT- HS Bị cáo Đặng Thị Thảo, sinh năm 1977 tại Bình Định, đã bị Tòa án nhân dân Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều -Ý kiến của Thẩm phán thứ hai và Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đồng ý với ý Căn cứ khoản 2 Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết - Ý kiến của Thẩm phán thứ hai và Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đồng ý với 3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Các thành viên của Hội đồng xét xử phúc thẩm đã được đọc lại biên bản THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |