- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Thị Dung - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Cấm bị cáo đi khỏi nơi cư trú, thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú được tính từ ngày tuyên án đến thời điểm bị cáo bị bắt đi chấp hành án phạt tù.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2022/HS-ST Ngày 13-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Đức Khoa
Ông Nguyễn Văn Đông
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 155/2021/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 161/2021/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Đinh Thị D, sinh ngày 25 tháng 12 năm 1978. Nơi ĐKHKTT: tỉnh Bến Tre, chỗ ở hiện nay: huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Hồng T và bà Lê Thị L; có chồng Bùi Văn N (đã ly hôn); Phan Ích H (chưa đăng ký kết hôn); có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10-9-2021. Có mặt.
NỘI D VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:
Bản thân D không nghiện ma túy nhưng thỉnh thoảng vẫn mua ma túy về sử dụng. Khoảng 20 giờ 45 phút, ngày 31-8-2021, D điều khiển xe mô tô BKS 15G1-012.06 đến khu vực xã Ngũ Lão, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng mua của một người đàn ông không quen biết 02 viên thuốc lắc với giá 200.000 đồng/viên và 01 gam Ketamine với giá 1.200.000 đồng. Sau khi mua D cất dấu số ma túy trên vào trong áo ngực phía bên trái đang mặc rồi điều khiển xe máy đi về nhà. Khi D đi đến đoạn đường 359 thuộc đại phận thôn 14, xã Ngũ Lão, thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng tang vật là 02 túi nilon màu trắng có cùng kích thước 2,5x2,5 cm; 01 túi chứa tinh thể màu trắng dạng cục; 01 túi chứa 02 viên nén màu xanh hình ngũ giác.
Kết luận giám định số 512/KLGĐ-MT ngày 07 tháng 9 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Tinh thể màu trắng trong túi nilon có khối lượng 0,84gam là ma túy loại Ketamine; 02 viên nén màu xanh hình ngũ giác có khối lượng 1,03gam là ma túy loại MDMA.
Vật chứng gồm: 01 phong bì niêm phong số 512MT/PC09 chứa chất ma túy, vỏ bao bì còn lại sau giám định đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên quản lý.
Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 15G1-012.06 tạm giữ của D. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là ông Phan Ích Hồng, sinh năm 1969; nơi cư trú: Thôn Mắt Rồng, xã Lập Lễ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. ông Hồng cho D mượn xe nhưng không biết việc D sử dụng để đi mua ma túy. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho ông Hồng là đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo trình bày thống nhất về hành vi như đã nêu trên, đồng ý với nội D Kết luận giám định, không có ý kiến hay khiếu nại gì.
Tại Bản cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 27 tháng 12 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên đã truy tố Đinh Thị D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s,n khoản 1 Điều 51 của BLHS xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong chứa chất ma túy, vỏ bao bì còn lại sau giám định. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo trình bày nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm đã thực hiện, tỏ ra ăn năn, hối cải và mong muốn được sự khoan hồng của pháp luật, được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định trong quá trình tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, của người được giao thẩm quyền tiến hành tố tụng đối với vụ án trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh, định khung hình phạt: Ngày 31 tháng 8 năm 2021, tại khu vực xã Ngũ Lão, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, Đinh Thị D có hành vi cất giấu trái phép trong người 01 gói ma túy loại Ketamine có khối lượng 0,84 gam và 01 gói ma túy loại MDMA có khối lượng 1,03 gam. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Tệ nạn ma túy đang là hiểm họa lớn đối với toàn xã hội, gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Khi thực hiện hàng vi phạm tội bị cáo đang mang thai, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Với phân tích trên, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn và xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân, bị cáo không có việc làm ổn định, điều kiện kinh tế của bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng, xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 512MT/PC09 chứa chất ma túy, vỏ bao bì còn lại sau giám định.
Về những vấn đề khác: Vụ án này không có dấu hiệu của việc bỏ lọt tội phạm hoặc hành vi phạm tội mới nên Hội đồng xét xử không phân tích chứng cứ để xem xét việc khởi tố vụ án hay yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38 điểm n,s khoản 1 Điều 51; Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đinh Thị D 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính ngày bị bắt đi chấp hành án.
Cấm bị cáo đi khỏi nơi cư trú, thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú được tính từ ngày tuyên án đến thời điểm bị cáo bị bắt đi chấp hành án phạt tù.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 512MT/PC09 chứa chất ma túy, vỏ bao bì còn lại sau giám định. (theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng).
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Thuỷ Nguyên; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Cơ quan điều tra Công an h. Thuỷ Nguyên; - Cơ quan THAHS CA huyện Thuỷ Nguyên; - TAND thành phố Hải Phòng; - Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mai |