- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tống Ngọc C tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tống Ngọc C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2022/HS-ST Ngày 01/11/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Quốc Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đình Hưng.
Ông Bùi Văn Khiếu.
- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Lộc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Thêu - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 11 năm 2022, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2022/TLST-HS ngày 03/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Tống Ngọc C; Sinh ngày: 02/4/1987 tại Bắc Kạn.
Nơi đăng HKTT và chỗ ở: Tổ K, phường H, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Văn hoá: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn thể: Không.
Con ông: Tống Ngọc H, sinh năm 1949, con bà: Nguyễn Thị S, sinh năm 1957; Cùng trú tại: Tổ K, phường H, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
+ Năm 2006, bị Công an xã Huyền Tụng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, số tiền phạt là 100.000,đ (một trăm nghìn đồng).
+ Ngày 28/11/2006, bị Chủ tịch UBND xã Huyền Tụng, ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã với thời hạn 06 tháng.
+ Năm 2007, bị Tòa án nhân dân thị xã Bắc Kạn (nay là thành phố Bắc Kạn) xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
+ Năm 2012, bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Bắc Kạn với thời hạn 12 tháng.
+ Năm 2014, bị Tòa án nhân dân thị xã Bắc Kạn (nay là thành phố Bắc Kạn) xử phạt 15 (mười năm) tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
+ Năm 2018, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Bắc Kạn với thời hạn 24 tháng.
+ Ngày 02/6/2022, có hành vi tàng trữ trái phép 0,15g (không phẩy một năm gam) ma túy, loại Heroine và Methamphetamine, bị tạm giữ từ ngày 02/6/2022 đến ngày 08/6/2022 thì được hủy bỏ biện pháp tạm giữ và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
+ Ngày 12/7/2022, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Huyền Tụng, thành phố Bắc Kạn ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản bằng hình thức phạt tiền, số tiền phạt là 2.500.000,đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng), đến nay chưa thực hiện việc nộp phạt.
+ Ngày 18/8/2022, Tống Ngọc C tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản, đồng thời vi phạm nghĩa vụ cam đoan trong thời gian được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú nên bị thay đổi sang biện pháp tạm giam từ ngày 18/8/2022 đến nay tại Nhà tạm giữ công an thành phố Bắc Kạn. Đối với hành vi trộm cắp tài sản của Tống Ngọc C vào ngày 18/8/2022 hiện đang được Cơ quan điều tra xác minh, xử lý ở vụ việc khác.
Bị cáo (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 40 phút ngày 02/6/2022, tại khu vực tổ 12, phường Nguyễn Thị Minh Khai, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma Túy Công an thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn bắt quả tang đối với Tống Ngọc C, sinh năm 1987, trú tại Tổ K, phường H, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần đằng sau bên phải Tống Ngọc C đang mặc 01 (một) gói được gói bằng giấy một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc, bên trong có chứa chất bột màu trắng hồng. Tiến hành cân xác định chất bột màu trắng hồng nói trên có khối lượng là 0,15g (không phẩy một năm gam), sau khi cân niêm phong toàn bộ số chất bột màu trắng hồng vào phong bì ký hiệu M1 gửi giám định, phong bì cũ và giấy gói cũ niêm phong vào phong bì ký hiệu M2 bảo quản theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Kạn đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp đối với Tống Ngọc C (tại địa chỉ nêu trên). Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại Kết luận giám định số 90/KTHS - MT ngày 09/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất bột màu trắng lẫn màu hồng trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine và Methamphetamine, có khối lượng là 0,15g (không phẩy một năm gam). Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu M1 còn lại 0,13g (không phẩy một ba gam) cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì ký hiệu T106 hoàn trả lại Cơ quan trưng cầu.
Tại Cơ quan điều tra, Tống Ngọc C khai nhận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 02/6/2022, Tống Ngọc C đi bộ từ nhà thuộc Tổ K, phường H, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đến khu vực gần cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn thuộc tổ 12, phường phường Nguyễn Thị Minh Khai, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn với mục đích đi tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, Tống Ngọc C gặp một người đàn ông tên là Tùng (không rõ họ, tên đệm, địa chỉ cụ thể), qua nói chuyện biết Tống Ngọc C muốn mua ma túy nên Tùng đã đồng ý bán ma túy cho C. Tống Ngọc C đưa cho Tùng 100.000,đ (một trăm nghìn đồng), Tùng nhận tiền và bán cho C 01 (một) gói ma túy. Sau khi mua được ma túy, Tống Ngọc C cất giấu vào túi quần đằng sau bên phải đang mặc rồi đi tìm nơi để sử dụng ma túy. Trên đường đi thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy Công an thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn bắt quả tang cùng vật chứng.
Trong quá trình điều tra, truy tố, bị can Tống Ngọc C đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của Tống Ngọc C phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị can có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến, có chú ruột là Liệt sĩ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công giải phóng. Bị can không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
* Về vật chứng của vụ án gồm:
- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T106, mặt trước phong bì có dòng chữ: “Vụ: Tống Ngọc C (1987) tàng trữ trái phép chất ma túy”, mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2, mặt trước phong bì có dòng chữ “Phong bì, giấy gói cũ thu giữ của Tống Ngọc C ngày 02/6/2022 lưu hồ sơ”. Mặt sau phong bì có 02 (hai) chữ “C”, có 02 (hai) dòng chữ “Tống Ngọc C”, có 06 (sáu) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Kạn. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
Hiện đang được bảo quản theo quy định.
Bản cáo trạng số 53/CT - VKSTPBK ngày 03/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố Tống Ngọc C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS 2015, điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a,…
c, Heroine, …, Methamphetamine… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
…
i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.”
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều khoản như đã viện dẫn ở trên đồng thời đề nghị HĐXX xử lý như sau:
Tuyên bố bị cáo Tống Ngọc C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2022, bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ 02/6/2022 đến ngày 08/6/2022.
Hình phạt bổ sung: Không phạt bổ sung.
Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS 2015.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T106, mặt trước phong bì có dòng chữ: “Vụ: Tống Ngọc C (1987) tàng trữ trái phép chất ma túy”, mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2, mặt trước phong bì có dòng chữ “Phong bì, giấy gói cũ thu giữ của Tống Ngọc C ngày 02/6/2022 lưu hồ sơ”. Mặt sau phong bì có 02 (hai) chữ “C”, có 02 (hai) dòng chữ “Tống Ngọc C”, có 06 (sáu) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Kạn. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
Về án phí bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định.
Hồi 10 giờ 40 phút ngày 02/6/2022, tại khu vực tổ 12, phường Nguyễn Thị Minh Khai, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, Tống Ngọc C có hành vi tàng trữ trái phép 0,15g (không phẩy một năm gam) ma túy, loại Heroine và Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan điều tra phát hiện, bắt quả tang.
Với hành vi nêu trên, bị cáo Tống Ngọc C đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS. Việc truy tố, xét xử đối với bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nên cần có mức án nghiêm khắc, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo để bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:
Về nhân thân.
Bị cáo là người có nhân thân sấu, sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2006. Năm 2007 và năm 2014 đã bị Tòa án xét xử về tội trộm cắp tài sản, năm 2012 và năm 2018, đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Bắc Kạn. Bị cáo đã không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục tàng trữ ma túy để sử dụng nên cần có mức án phù hợp để cải tạo cũng như giáo dục bị cáo để bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và gia đình.
Về tình tiết giảm nhẹ. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến, có chú ruột là Liệt sĩ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công do đó được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là “Thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo Tống Ngọc C không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung “phạt tiền” đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng gồm.
- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T106, mặt trước phong bì có dòng chữ: “Vụ: Tống Ngọc C (1987) tàng trữ trái phép chất ma túy”, mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2, mặt trước phong bì có dòng chữ “Phong bì, giấy gói cũ thu giữ của Tống Ngọc C ngày 02/6/2022 lưu hồ sơ”. Mặt sau phong bì có 02 (hai) chữ “C”, có 02 (hai) dòng chữ “Tống Ngọc C”, có 06 (sáu) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Kạn. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
Số vật chứng trên Là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên xét thấy cần áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS 2015. Tịch thu tiêu hủy.
Những vấn đề khác: Trong vụ án này, còn có đối tượng bán trái phép chất
ma túy cho Tống Ngọc C. Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên không có căn cứ để điều tra, xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Tống Ngọc C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Tống Ngọc C 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2022, bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 02/6/2022 đến ngày 08/6/2022.
2. Hình phạt bổ sung: Không phạt bổ sung.
3. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS 2015.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T106, mặt trước phong bì có dòng chữ: “Vụ: Tống Ngọc C (1987) tàng trữ trái phép chất ma túy”, mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2, mặt trước phong bì có dòng chữ “Phong bì, giấy gói cũ thu giữ của Tống Ngọc C ngày 02/6/2022 lưu hồ sơ”. Mặt sau phong bì có 02 (hai) chữ “C”, có 02 (hai) dòng chữ “Tống Ngọc C”, có 06 (sáu) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Kạn. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
(Tình trạng, số lượng vật chứng theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Bắc Kạn và chi Cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn. Biên bản giao vật chứng giữa Tòa án thành phố Bắc Kạn và chi Cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn ngày 24 tháng 10 năm 2022 ).
4. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Tống Ngọc C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND tỉnh; - Nhà tạm giữ CA TP Bắc Kạn; - VKSND thành phố Bắc Kạn; - Công an TP Bắc Kạn; - THADS TP Bắc Kạn; - Sở tư pháp tỉnh Bắc Kạn; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ma Quốc Tuấn |