vanban.org

Bản án 04/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 11, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 20/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tạm giam bị cáo: Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1988; nơi sinh: Tỉnh An Giang; hộ khẩu thường trú: 249/9E đường Tỉnh lộ 15, tổ 3, ấp 10, xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017). Thời hạn tạm giam là 45 ngày (bốn mươi lăm ngày), kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tạm giam bị cáo: Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1988; nơi sinh: Tỉnh An Giang; hộ khẩu thường trú: 249/9E đường Tỉnh lộ 15, tổ 3, ấp 10, xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2022/HS-ST
Ngày 20/01/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lâm Ngọc Minh;

Ông Lý Thành Trung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Vũ – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa:

Ông Trần Vi Hải - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 01 năm 2022, tại Phòng xử A trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Huỳnh Ngọc T, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 15/6/1988 tại tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: đường T, xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Ngọc A và bà Trịnh Xíu H; bị cáo có vợ (không đăng ký kết hôn) và có 01 con sinh năm 2008; tiền án: Không có, tiền sự: Không có; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/7/2021; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 20 phút ngày 25/7/2021, tổ tuần tra 363 của Công an Quận 11 trên đường tuần tra phát hiện Huỳnh Ngọc T đang đi bộ trên đường có biểu hiện nghi vấn, khi đến trước số 45G đường Ông Ích Khiêm, Phường 10, Quận 11 thì tiến hành kiểm tra T. Qua kiểm tra phát hiện trong túi quần phía trước bên phải của Huỳnh Ngọc T có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy nên đưa người và vật chứng về trụ sở Công an Phường 10, Quận 11 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy đối với Huỳnh Ngọc T. Kết quả xét nghiệm y khoa của Huỳnh Ngọc T dương tính với ma túy tổng hợp Amphetamine và Methamphetamine.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã tiến hành trưng cầu giám định 01 gói nylon chứa tinh thể không màu thu giữ của Huỳnh Ngọc T. Tại Bản kết luận giám định số 4372/KL Đ-MT, ngày 02/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Huỳnh Ngọc T và hình dấu Công an Phường 10, Quận 11, là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,8208g loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo T khai nhận: T nghiện ma túy khoảng một năm nay, ma túy T thường sử dụng là ma túy đá. ói nylon chứa tinh thể không màu mà Công an bắt thu giữ là ma túy của T cất giữ nhằm mục đích sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt giữ. Về nguồn gốc số ma túy, T khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch ở khu vực huyện Hóc Môn vào buổi tối ngày 25/7/2021 với giá là 400.000 đồng. Khi mua ma túy là vào lúc trời tối nên T không nhớ rõ địa điểm nơi đã mua ma túy và cũng không nhớ về đặc điểm nhận dạng của người đã bán ma túy cho mình.

Vật chứng và tài sản thu giữ:

- 01 gói niêm phong ghi vụ số 4372 là ma túy còn lại sau giám định, bên ngoài có chữ ký của iám định viên và Cán bộ điều tra;

- 02 nỏ thủy tinh, trong đó có 01 cái bị bể; 02 đoạn ống hút; 03 hộp quẹt, là những dụng cụ T dùng để sử dụng ma túy.

Bản cáo trạng số 03/CT-VKSQ11 ngày 09 tháng 12 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị cáo Huỳnh Ngọc T tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Ngọc T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; đồng thời đề nghị hướng xử lý vật chứng như sau: Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi vụ số 4372 là ma túy còn lại sau giám định, bên ngoài có chữ ký của iám định viên và Cán bộ điều tra bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định, 02 nỏ thủy tinh, trong đó có 01 cái bị bể; 02 đoạn ống hút; 03 hộp quẹt, là những dụng cụ T dùng để sử dụng ma túy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và các tang vật thu giữ được. Do đó, có đủ cơ sở để xác định:

Vào khoảng 22 giờ 20 phút ngày 25/7/2021, tại trước nhà số 45G đường Ông Ích Khiêm, Phường 10, Quận 11 bị cáo Huỳnh Ngọc T đã có hành vi cất giữ trái phép 0,8208 gam (không phẩy tám hai không tám gam) ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang.

Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việc gây nguy hiểm cho xã hội khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện, nên có lỗi cố ý trực tiếp.

Hành vi của bị cáo đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã vi phạm đến chính sách độc quyền kiểm soát, quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, đặc biệt là các chất gây nghiện thuộc danh mục các chất ma túy, tiền chất và các chất hóa học tham gia vào quá trình chế tạo các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, đồng thời làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Vì vậy cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không cần bắt bị cáo phải chịu phạt tiền là hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng:

- 01 gói niêm phong ghi vụ số 4372, bên ngoài có chữ ký của iám định viên và Điều tra viên bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định; 02 nỏ thủy tinh, trong đó có 01 cái bị bể; 02 đoạn ống hút; 03 hộp quẹt là những dụng cụ bị cáo dùng để sử dụng ma túy, cần tịch thu và tiêu hủy.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017),

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2021.

Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017),

Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 4372 (là ma túy còn lại sau giám định, bên ngoài có chữ ký của iám định viên và Điều tra viên); 02 nỏ thủy tinh, trong đó có 01 cái bị bể; 02 đoạn ống hút; 03 hộp quẹt.

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 90/ĐCSMT ngày 29/7/2021 và Lệnh nhập kho vật chứng số 106/ĐCSMT ngày 11/10/2021).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- TAND - VKSND TPHCM;

(Đã ký)

- Sở Tư pháp TPHCM;

- PC 27 - CA TPHCM;

- VKSND Q.11;

- Công an Q.11;

- Chi cục THADS Q.11;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thanh Phúc TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––

–––––––––––––––––––––––––––––––

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 10 giờ 30 phút, ngày 20 tháng 01 năm 2022.

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lâm Ngọc Minh;

Ông Lý Thành Trung.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2021, đối với:

Bị cáo Huỳnh Ngọc T; sinh năm: 1988, tại tỉnh An iang;

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1. Về điều luật áp dụng:

Căn cứ vào Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017),

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

2. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

3. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2021.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

4. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017),

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 4372 (là ma túy còn lại sau giám định, bên ngoài có chữ ký của iám định viên và Điều tra viên); 02 nỏ thủy tinh, trong đó có 01 cái bị bể; 02 đoạn ống hút; 03 hộp quẹt.

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 90/ĐCSMT ngày 29/7/2021 và Lệnh nhập kho vật chứng số 106/ĐCSMT ngày 11/10/2021).

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

5. Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

6. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

Nghị án kết thúc vào hồi 11 giờ 20 phút, ngày 20 tháng 01 năm 2021.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Phúc TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––

–––––––––––––––––––––––––––––––

Quận 11, ngày 20 tháng 01 năm 2022

Số: 04/2022/HSST-QĐT

QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Lâm Ngọc Minh;

- Ông Lý Thành Trung.

Căn cứ các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Biên bản nghị án ngày 20 tháng 01 năm 2022 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;

Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1

Tạm giam bị cáo: Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1988; nơi sinh: Tỉnh An Giang; hộ khẩu thường trú: 249/9E đường Tỉnh lộ 15, tổ 3, ấp 10, xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Thời hạn tạm giam là 45 ngày (bốn mươi lăm ngày), kể từ ngày tuyên án.

Điều 2

Trại tạm giam Chí Hòa (Trại tạm giam T30) Thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Cỡ chữ