- Tranh chấp gì? án hình sự — "T chứa mại dâm - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn T phạm tội Môi giới mại dâm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2022/HS-ST Ngày: 17 - 01 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
--------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần những người tiến hành tố tụng gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thuỷ
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thuý Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang tham
gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Sơn,
mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số 02/2022/TLST-HS, ngày 14 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2022/QĐXXST-HS, ngày 14/01/2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lương Văn T, sinh ngày: 03/8/1993; trú tại: thôn VS, xã VL,
huyện YB, tỉnh YB1; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Lương Văn T1, sinh năm 1966 và con bà Trần Thị H, sinh năm 1967; Vợ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1998; Con: có 01 con, sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại
phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Lương Văn T, sinh năm 1993, trú tại thôn VS, xã VL, huyện YB, tỉnh
YB1 (là cháu của bà Lương Thị L và ông Đàm Ngọc D, người quản lý nhà nghỉ Hoàng P ở thôn 8, xã TM, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang).
Khoảng 21 giờ 50 phút ngày 25/12/2021, T đến nhà nghỉ Hoàng P thì ông
D, bà L không có ở nhà nghỉ. T ngồi nói chuyện cùng Nguyễn Thiên H, sinh năm 1992 trú tại thôn 7, xã Kim P, thành phố TQ (H1 là nhân viên dọn dẹp phòng tại nhà nghỉ). Khoảng 22 giờ cùng ngày, Nguyễn Ngọc T5 trú tại tổ dân phố LQ, thị trấn Yên Sơn, huyện Yên Sơn đến. T hỏi Tuân “đến thuê phòng à”, Tuân trả lời “anh cho em một phòng có nhân viên phục vụ”. T hiểu ý Tuân có nhu cầu mua dâm, T hiểu ý Tuân có nhu cầu mua dâm, T đi đến chỗ Hương nói có khách đến mua dâm, bán dâm xong T sẽ trả cho Hương 150.000 đồng, Hương đồng ý. T quay lại nói với Tuân “Có nhân viên phục vụ mỗi lần là 300.000 đồng”, Tuân đồng ý, đưa cho T 300.000 đồng. Sau đó Hương đưa Tuân vào phòng 208 của nhà nghỉ Hoàng Phát để bán dâm cho Tuân, T ngồi chờ tại tầng 1. Hồi 22 giờ 50 phút, khi Hương và Tuân đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị tổ công tác đội Cảnh sát hình sự Công an huyện Yên Sơn phối hợp cùng Công an xã TM, huyện Yên Sơn kiểm tra, phát hiện và lập biên bắt người phạm tội quả tang đối với Lương Văn T. Thu giữ tại phòng 208: 01 vỏ bao cao su mặt trước màu đỏ, đen có ghi chữ SLIVER FOX, 01 bao cao su đã qua sử dụng và T tự giao nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Quá trình điều tra Lương Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
mình.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 08/QD-VKSYS, ngày
14/01/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn đã truy tố Lương Văn T về tội Môi giới mại dâm quy định tại khoản, 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo
về tội danh, điều luật như Quyết định truy tố và đề nghị:
* Tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội Môi giới mại dâm.
* Áp dụng: Khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật
hình sự:
- Xử phạt bị cáo Lương Văn T từ 06 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án
treo, thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 17/01/2021.
Giao bị cáo Lương Văn T cho UBND xã xã VL, huyện YB, tỉnh YB1, nơi bị
cáo cư trú để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
* Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ 01 vỏ bao cao su mặt trước màu đỏ, đen có ghi chữ
SLIVER FOX, 01 bao cao su đã qua sử dụng.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng.
* Áp dụng Điều 136; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, để buộc bị cáo phải chịu án phí.
* Áp dụng các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự để tuyên quyền
kháng cáo bản án cho bị cáo theo quy định.
Bị cáo không tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Nói lời sau
cùng bị cáo xin Tòa án cho hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa nhận định như sau:
. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận hành vi
phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, từ chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 22 giờ ngày 25/12/2021, tại phòng 208 nhà nghỉ Hoàng Phát ở thôn
8, xã TM, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, Lương Văn T, sinh năm 1993, trú tại thôn VS, xã VL, huyện YB, tỉnh YB1 có hành vi môi giới cho Nguyễn Thiên H, sinh năm 1992, trú tại thôn 7, xã Kim P, thành phố TQ bán dâm cho Nguyễn Ngọc T5, trú tại tổ dân phố LQ, thị trấn Yên Sơn, huyện Yên Sơn với giá 300.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Lương Văn T đã phạm vào tội Môi giới mại dâm, tội
phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Ðiều 328 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Trong vụ án này có đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 456 Bộ luật Tố tụng hình sự đó là: Hành vi phạm tội bị bắt quả tang; sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng; người phạm tội có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng nên vụ án đủ điều kiện để điều tra, truy tố, xét xử theo thủ tục rút gọn là phù hợp.
Hành vi của bị cáo đã vi phạm pháp luật hình sự, nguy hiểm cho xã hội,
trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục của dân tộc, xâm phạm đạo đức xã hội và sức khỏe nhân phẩm con người. Nên cần xử bị cáo mức hình phạt tù nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để dăn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
. Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình
tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; khi quyết định mức hình phạt cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để áp dụng quyết định mức hình phạt đối với bị cáo cho phù hợp.
. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú ổn định rõ ràng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên cần cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo được cải tạo tại địa phương, đồng thời ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục như đề nghị của Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không
có thu nhập ổn định nên không phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 4 Điều 328 của Bộ luật hình sự là phù hợp.
. Về vật chứng: Đối với 01 vỏ bao cao su mặt trước màu đỏ, đen có ghi
chữ SLIVER FOX, 01 bao cao su đã qua sử dụng là vật chứng của vụ án cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với số tiền 300.000 đồng là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu
sung quỹ Nhà nước là phù hợp.
. Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, bị hại được quyền kháng
cáo bản án theo quy định của pháp luật.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện
Yên Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật
Hình sự:
- Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn T phạm tội Môi giới mại dâm.
- Xử phạt: Bị cáo Lương Văn T 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thử
thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 17/01/2022.
Giao bị cáo: Lương Văn T cho UBND xã VL, huyện YB, tỉnh YB1 nơi bị
cáo cư trú để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
- Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo
quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ 01 vỏ bao cao su mặt trước màu đỏ, đen có ghi chữ
SLIVER FOX, 01 bao cao su đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Yên Sơn với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Sơn).
3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt được
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nơi nhận:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- Tòa án nhân dân tỉnh TQ;
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND h. Yên Sơn;
- Bị cáo; Người tham gia TT;
- CQCSĐT Công an huyện;
- Chi cục THADS huyện;
- Sở Tư pháp TQ;
- Hồ sơ vụ án hình sự;
- Thi hành án hình sự;
- Lưu HS.
Nguyễn Xuân Thuỷ
Hội đồng xét xử sơ thẩm
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đặng Thị Huệ – Hà Thị Vinh
Nguyễn Xuân Thuỷ
- Tòa án nhân dân tỉnh TQ;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND h. Yên Sơn;
- Bị cáo; Người tham gia TT;
- CQCSĐT Công an huyện;
- Chi cục THADS huyện;
- Sở Tư pháp TQ;
- Hồ sơ vụ án hình sự;
- Thi hành án hình sự;
- Lưu HS.
Nguyễn Xuân Thuỷ
Hội đồng xét xử sơ thẩm
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đặng Thị Huệ – Hà Thị Vinh
Nguyễn Xuân Thuỷ Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án nhân dân tỉnh TQ;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND h. Yên Sơn;
- Bị cáo; Người tham gia TT;
- CQCSĐT Công an huyện;
- Chi cục THADS huyện;
- Sở Tư pháp TQ;
- Hồ sơ vụ án hình sự;
- Thi hành án hình sự;
- Lưu HS.
Nguyễn Xuân Thuỷ
Hội đồng xét xử sơ thẩm
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quang Thắng – Hà Thị Vinh
Nguyễn Xuân Thuỷ
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh TQ; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND h. Yên Sơn; - Bị cáo; Người tham gia TT; - CQCSĐT Công an huyện; - Chi cục THADS huyện; - Sở Tư pháp TQ; - Hồ sơ vụ án hình sự; - Thi hành án hình sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Xuân Thuỷ |