- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn T - phạm tội TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2022/HS-ST Ngày 03 - 11 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tòng Thị Lan Các Hội thẩm nhân dân: Bà Sùng Thị Sua, Ông Sùng A Dinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
ơ
Ngày 03 tháng 11 năm 2022 tại Trụ sở TAND huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2022/TLST-HS ngày 04/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:04/2022/QĐXXST-HS ngày 21/10/2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Quàng Văn T - Tên gọi khác: Quàng Văn Ph; Sinh năm 1981 tại huyện C, tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: Bản S, thị trấn T, huyện C, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Quàng Văn Kh – Sinh năm 1943 và bà Lò Thị N – Sinh năm 1948; vợ Mào Thị M (đã ly hôn) và có 01 con - Sinh năm 2003; Tiền sự: Không; Tiền án: có 01 tiền án, năm 2008 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xử phạt 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 13 tháng 06 ngày về tội “Trộm cắp tài sản”, Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích; Nhân thân: Ngày 25/7/2009 bị xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 200.000đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 02/XP – HC ngày 25/7/2009 của Công an huyện C; Ngày 16/12/2009 áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng theo Quyết định số 2250/QĐ – UB (NC) của Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên, bị cáo chấp hành xong quyết định ngày 16/11/2011; Năm 2012 áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh 12 tháng theo Quyết định số 675/QĐ - UBND ngày 13/6/2012 của Chủ tịch UBND huyện C, bị cáo chấp xong quyết định ngày 03/6/2013.
Tạm giữ từ ngày 23/6/2022 đến ngày 26/6/2022, tạm giam từ ngày 26/6/2022 đến nay. Bị cáo có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người phiên dịch: Bà Lò Thị T - Sinh năm 1980; Nơi cư trú: Bản B, thị trấn T, huyện C, tỉnh Điện Biên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 23/6/2022 bị cáo Quàng Văn T đi bộ từ nhà Bản S, thị trấn T lên tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện C tìm mua ma túy để sử dụng, tại đây bị cáo có gặp một người phụ nữ không biết tên tuổi, địa chỉ và hỏi mua được 01 gói ma túy với giá 150.000đồng. Sau khi mua được ma túy bị cáo cất giấu gói ma tuý trong lòng bàn tay trái rồi đi về nhà. Đến 13 giờ 00 phút cùng ngày khi bị cáo đi đến đoạn đường thuộc Bản N, thị trấn T, huyện C thì bị tổ công tác Công an huyện Tủa Chùa bắt quả tang về hành vi cất giấu trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm: 01gói ma túy được gói ngoài bằng mảnh giấy nilon màu trắng bên trong có 01 cục chất bột màu trắng thể rắn.
Ngày 23/6/2022 Cơ quan điều tra mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, xác định vật chứng thu giữ của bị cáo có khối lượng 0,2805 gam; lấy 0,0824 gam làm mẫu vật gửi giám định, niêm phong vật chứng còn lại 0,1981 gam.
Kết luận giám định số: 923/KL - PC09 ngày 01/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Quàng Văn T là 0,2805gam; Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine.
Cáo trạng số 20/CT - VKSHTC ngày 03 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa truy tố bị cáo Quàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số Heroine còn lại 0,1981 gam; Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Xét về hành vi của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến bắt quả tang bị cáo, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả thu giữ vật chứng; biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và bản kết luận giám định.
Có đủ cơ sở kết luận ngày 23/6/2022 bị cáo đã mua được của một người phụ nữ không quen biết 01 gói ma túy loại Heroine trị giá 150.000 đồng, mục đích bị cáo mua ma túy là để sử dụng. Sau khi mua được bị cáo cất giấu gói Heroine trong lòng bàn tay trái. Đến 13 giờ 00 phút cùng ngày khi bị cáo đi bộ đến đoạn đường thuộc Bản N, thị trấn T, huyện Tủa Chùa thì bị tổ công tác Công an huyện Tủa Chùa bắt quả tang.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đã cố ý mua 0,2805 gam Heroine cất giấu để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội. [2] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Về nhân thân: Năm 2009 bị xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 200.000đồng; Ngày 16/12/2009 áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng; Năm 2012 áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh 12 tháng, bị cáo đã chấp hành xong các quyết định và hết thời hạn để bị coi là xử lý vi phạm hành chính, tính đến nay bị cáo không có tiền sự, nhưng cần xem xét đến nhân thân khi quyết định mức hình phạt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Năm 2008 bị TAND huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xử phạt 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 13 tháng 06 ngày về tội "Trộm cắp tài sản" tại bản án số 28/2008/HSST ngày 15/9/2008, Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính, nhưng bị cáo chưa thi hành xong khoản nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm 50.000đồng, đến ngày 23/6/2022 bị cáo có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, do đó bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "tái phạm" theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "thành khẩn khai báo" theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên về áp dụng tình tiết giảm nhẹ này.
Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đồng thời có cơ hội cho bị cáo cai nghiện chất ma túy. [3] Về hình phạt bổ sung:
Căn cứ vào biên bản xác minh tài sản của cơ quan điều tra và tranh tụng tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng, không có việc làm và thu nhập ổn định, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS đối với bị cáo là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận. [4] Về vấn đề khác có liên quan:
Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được họ tên, địa chỉ, nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét, xử lý. [5] Về vật chứng vụ án:
Đối với số Heroine còn lại 0,1981 gam; 01 mảnh giấy nilon màu trắng gói vật chứng ban đầu; 01 phong bì niêm phong cũ là vật cấm tàng trữ và vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. [6] Về án phí:
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ và phí Tòa án. [7] Về hành vi, quyết định tố tụng:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự: 1. Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Quàng Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 23/6/2022. 3. Về vật chứng vụ án:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 0,1981gam Heroine; 01 mảnh giấy nilon màu trắng; 01 phong bì niêm phong cũ.
Số vật chứng trên cơ quan Thi hành án dân sự huyện Tủa Chùa đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tủa Chùa. 4. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ và phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 5. Kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 03/11/2022)
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Tủa Chùa; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Bộ phận hồ sơ NV- CA huyện Tủa Chùa; - Cơ quan CSĐT CA huyện Tủa Chùa; - Cơ quan THAHS huyện, tỉnh; - Sở Tư Pháp tỉnh Điện Biên; - THADS huyện Tủa Chùa; - Bị cáo; - Lưu: HSVA, HSTHA. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( ĐÃ KÝ) Tòng Thị Lan |