vanban.org

Bản án 04/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 20/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đ V A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Đ V A 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 02/11/2021). Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đ V A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MINH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 04/2022/HS-ST
Ngày: 20/01/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Quốc Hoàn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà: Cao Thị Thu Ngà

Ông: Đinh Minh Tặng

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hà–Thư ký Toà án nhân dân huyện Minh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hoá tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Mỹ Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Đ V A, sinh ngày: 18 tháng 9 năm 1977 tại: H H, M H, Qu B. Nơi cư trú: Thôn Đ N, xã H H, huyện M H, tỉnh Qu B; nghề nghiệp: Sản xuất nông nghiệp; trình độ văn hoá: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đ Ch T, sinh năm 1938 và bà Đ Th T, sinh năm 1944; có vợ là Đ Th T, sinh năm 1983 ( đã ly hôn ) và 03 người con; tiền sự: Không; tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/11/2021 đến ngày 11/11/2021 chuyển tạm giam cho đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh Đ D Đ – sinh năm 2002 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ N, xã H H, huyện M H, tỉnh Qu B.

- Người làm chứng:

Anh Đ Th Th – sinh năm 1986 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T B, xã H H, huyện M H, tỉnh Qu B.

- Người chứng kiến:

Anh Đ M S – sinh năm 1970 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn L H, xã Tr H, huyện M H, tỉnh Qu B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 22 giờ ngày 02/11/2021, Tổ công tác Công an huyện Minh Hóa chủ trì phối hợp với Công an xã Trung Hóa tiến hành tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên tuyến đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận thôn L H, xã Tr H, huyện M H, tỉnh Qu B. Đến khu vực trước quán S H đối diện đường Hồ Chí Minh thuộc thôn Tr H, huyện M H phát hiện đối tượng Đ V A dừng xe mô tô BKS 73V1 – 62.. trước cửa quán tạp hóa có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện trong khẩu trang màu trắng xanh mà A đang đeo trên mặt có một túi ni long màu xanh tím than, bên trong có chứa 197 viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược, trong đó có 195 viên màu hồng, 02 viên màu xanh. A khai nhận toàn bộ số viên nén trên là ma túy loại hồng phiến, A cất dấu để sử dụng. Cơ quan chức năng đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong tang vật ký hiệu M1.

Quá trình điều tra Đ V A khai nhận: Khoảng 19 giờ, ngày 02/11/2021, A điều khiển xe mô tô BKS 73V1 – 62.. đi đến thị trấn Tr, huyện B Tr để mua ma túy về sử dụng. Tại đây A gặp một người đàn ông không quen biết và hỏi mua ma túy với giá 5.000.000 đồng, thì người đó đồng ý bán cho A 01 túi ni long xanh màu tím than, bên trong có chứa 197 viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược, trong đó có 195 viên màu hồng và 02 viên màu xanh. Sau đó A đưa tiền cho người đàn ông và nhận lấy số ma túy trên cất dấu vào chiếc khẩu trang màu xanh trắng rồi đeo lên mặt của A. Sau đó A điều khiển xe để đi về nhà tại xã H H, khi đến địa phận thôn L H, xã Tr H, A dừng xe lại trước cửa hàng tạp hóa S H đối diện đường Hồ Chí Minh thì lực lượng Công an kiểm tra phát hiện, bắt quả tang thu giữ bên trong chiếc khẩu trang A đang đeo trên mặt toàn bộ số ma túy trên.

Tại bản kết luận giám định số 1265 ngày 09/11/2021 của phòng PC09 Công an tỉnh Quảng Bình kết luận:

- Mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 20,329g.

- Mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,201g.

Về vật chứng vụ án:

- Số ma túy sau giám định bỏ vào 01 bì thư dán kín, ghi số “1265/GĐ-PC09" "Mẫu ký hiệu A1 và A2" được niêm phong bằng các chữ ký của ông Hoàng Khắc Tuấn, Nguyễn Ngọc Sơn, Võ Thị Kim Liên, Nguyễn Danh Nam và dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình;

- 01 khẩu trang y tế đã qua sử dụng bị đứt 01 quai đeo, một mặt màu xanh, một mặt màu trắng , mặt màu trắng bị rách.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu SHARK, số loại VVB, màu sơn nâu, BKS 73V1 – 62.. , xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong.

Cáo trạng số 03/CT-VKSMH ngày 06/01/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hoá quyết định truy tố bị cáo Đ V A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố cũng như đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đ V A từ 06 năm đến 07 năm tù và xử lý vật chứng.

Căn cứ vào kết quả thẩm vấn công khai tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; lời khai của những người tham gia tố tụng tại phiên toà; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên toà bị cáo đã nhất trí hoàn toàn với nội dung bản Cáo trạng đã được đại diện Viện kiểm sát công bố và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với các lời khai của những người tham gia tố tụng, qua đó cho thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Minh Hóa, Viện kiểm sát huyện Minh Hóa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hành vi của bị cáo: Lúc 22 giờ ngày 02/11/2021 tại thôn L H, xã Tr H, huyện M H, tỉnh Qu B, Đ V A có hành vi tàng trữ 20,53g ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị Lực lượng Công an bắt quả tang và lập biên bản.

Tại phiên tòa bị cáo Đ V A đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ đã được kiểm tra tại phiên tòa. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đưa ra quan điểm xét xử vụ án là có căn cứ nên chấp nhận. Do đó Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Đ V A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm g khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét tính chất hành vi, hậu quả do bị cáo gây ra vụ án cho thấy: Đây là hành vi phạm tội có tính chất táo bạo và liều lĩnh, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền về các chất ma túy. Vì vậy hành vi trên cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm minh nhằm trừng trị, cải tạo thành người tốt và răn đe, giáo dục chung trong xã hội.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân: Bị cáo Đ V A có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng.

Tình tiết tăng nặng: không có tình tiết tăng nặng

Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thấy được lỗi lầm của mình. Bố và mẹ đẻ của bị cáo là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất và hạng nhì. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo Đ V A ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để cho bị cáo cải tạo trở thành người có ích trong xã hội. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo đã thấy được lỗi lầm của mình nên Hội đồng sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được tính khoản hồng của Pháp luật Nhà nước.

Vật chứng vụ án:

01 xe mô tô nhãn hiệu SHARK, số loại VVB, màu sơn nâu, BKS 73V1 – 62.., xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong, là tài sản của Đ D Đ, trú tại thôn Đ N, xã H H, M H , Đ V A sử dụng đi mua ma túy Đ không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Minh Hóa đã lập biên bản trả lại cho Đ D Đ vào ngày 15/12/2021. Việc xử lý vật chứng này là đúng quy định của pháp luật nên không xem xét.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy:

- Số ma túy sau giám định bỏ vào 01 bì thư dán kín, ghi số “1265/GĐ-PC09" "Mẫu ký hiệu A1 và A2" được niêm phong bằng các chữ ký của ông Hoàng Khắc Tuấn, Nguyễn Ngọc Sơn, Võ Thị Kim Liên, Nguyễn Danh Nam và dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình;

- 01 khẩu trang y tế đã qua sử dụng bị đứt 01 quai đeo, một mặt màu xanh, một mặt màu trắng , mặt màu trắng bị rách.

Số vật chứng trên đã được chuyển giao và hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Minh Hóa theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/01/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Minh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa.

Trong vụ án này còn có người đàn ông bán ma túy cho A, tuy nhiên A không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu nên Cơ quan cảnh sát điều tra không thể điều tra, không xác định được đối tượng trên.

Về án phí: Bị cáo Đ V A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đ V A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đ V A 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 02/11/2021).

Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng vụ án:

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy:

- Số ma túy sau giám định bỏ vào 01 bì thư dán kín, ghi số “1265/GĐ-PC09" "Mẫu ký hiệu A1 và A2" được niêm phong bằng các chữ ký của ông Hoàng Khắc Tuấn, Nguyễn Ngọc Sơn, Võ Thị Kim Liên, Nguyễn Danh Nam và dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình;

- 01 khẩu trang y tế đã qua sử dụng bị đứt 01 quai đeo, một mặt màu xanh, một mặt màu trắng , mặt màu trắng bị rách.

Số vật chứng trên đã được chuyển giao và hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Minh Hóa theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/01/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Minh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Đ V A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/01/2022) để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ