- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Được tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ: điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:04/2022/HS-ST Ngày 22-02-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC – TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Sang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Công Kiều; Ông Lê Nam Văn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa:
Bà Hà Thị Quy - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:02/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:04/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ tên: Nguyễn Văn Đ.
Giới tính: Nam.
Tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 06 tháng 9 năm 1971 - tại xã Thành Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Trú tại: Thôn Thành Tây, xã Thành Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa 3/10; Con ông Nguyễn Văn Th (đã chết) và bà Lê Thị N, sinh năm 1935; Gia đình có 06 người con, bị cáo là con thứ sáu; Có vợ là Lê Thị L, sinh năm 1969 và 02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1993.
Tiền án: 01, Ngày 27/9/2013 bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 26/10/2018 chấp hành xong bản án. Chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 08/11/2005 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 03 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt của hai tội là 06 năm tù. Ngày 23/9/2009 chấp hành xong hình phạt tù. Thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích. Nguyễn Văn Đ là người nghiện chất ma túy.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/9/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hậu Lộc. Có mặt tại phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác:
* Người chứng kiến:
- Ông Lê Văn Quê, sinh năm 1957 (vắng mặt);
- Chị Lê Thị Nhung, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn Thành Tây, xã Thành Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 23 tháng 9 năm 2021, Công an xã Thành Lộc, huyện Hậu Lộc tuần tra, làm nhiệm vụ tại khu vực thôn Thành Tây, xã Thành Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, thì phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối tượng Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1971, địa chỉ: Thôn Thành Tây, xã Thành Lộc, huyện Hậu Lộc, đang có hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Lực lượng Công an thu giữ tại túi quần trước bên trái Nguyễn Văn Đ đang mặc 01 túi ni lông màu trắng, viền đỏ, kích thước 7x11cm bên trong đựng 3 túi ni lông màu trắng bên trong đều là viên nén hình trụ màu hồng; 01 gói ni lông màu trắng viền đỏ kích thước 5x3cm, bên trong đựng chất bột màu hồng dạng cục vụn; 05 gói ni lông màu đen, 03 gói ni lông màu xanh, 02 gói ni lông màu vàng bên trong đều là mảnh giấy trắng gói chất bột màu trắng, Nguyễn Văn Đ khai tất cả tang vật thu giữ đều là chất ma túy, Được mua về để sử dụng do bản thân Được là người nghiện ma túy.
Sau đó Công an xã Thành Lộc bàn giao Nguyễn Văn Đ và tang vật cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hậu Lộc điều tra, giải quyết theo thẩm quyền.
Lúc 07 giờ 10 phút ngày 24 tháng 9 năm 2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hậu Lộc đã tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà ở của Được ở thôn Thành Tây, xã Thành Lộc, huyện Hậu Lộc, nhưng không thu được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hậu Lộc đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 94/QĐ-ĐCSKT-MT ngày 24 tháng 9 năm 2021 - trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, giám định đối với vật chứng đã thu giữ của Nguyễn Văn Đ. Tại bản kết luận giám định số 2996/PC09 ngày 27/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa xác định: 03 viên nén hình trụ tròn màu hồng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,286 gam (không phẩy hai tám sáu gam) loại Methamphetamine; Chất bột màu hồng dạng cục vụn của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,335 gam (không phẩy ba ba năm gam) loại Methamphetamine; Chất bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,895 gam (không phẩy tám chín năm gam) loại Heroine.
Nguyễn Văn Đ đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hậu Lộc thông báo về nội dung kết luận giám định và đồng ý với nội dung kết luận, không có ý kiến gì.
Về nguồn gốc số ma túy trên, Nguyễn Văn Đ khai nhận vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 23 tháng 9 năm 2021, Được đi nhờ xe của một người không quen biết đến khu vực cầu Đò Lèn, huyện Hà Trung, gặp một người đàn ông khoảng 25 tuổi, cao 1m70, đeo khẩu trang (không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua ma túy với giá 1.300.000 đồng. Nam thanh niên cầm tiền và bán cho Nguyễn Văn Đ 01 túi ma túy, sau khi mua ma túy xong Được xin đi nhờ xe của người đi đường để về nhà. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày khi Được đang đứng tại khu vực cổng nhà thì bị lực lượng Công an xã Thành Lộc kiểm tra bắt giữ người và tang vật.
Đối với người nam giới đã bán ma túy cho Nguyễn Văn Đ, Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ để xác định tên, tuổi và địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan điều tra đã tách hồ sơ tiếp tục điều tra để làm rõ và xử lý sau.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị can Nguyễn Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của Được phù hợp với các tài liệu đã được điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án: Toàn bộ các mẫu vật còn lại sau giám định gồm: 02 viên nén hình trụ tròn màu hồng có tổng khối lượng 0,198 gam (không phẩy một chín tám gam); 0,306 gam (không phẩy ba không sáu gam) chất bột màu hồng dạng cục vụn; 0,813 gam (không phẩy tám một ba gam) chất bột màu trắng. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành được dán kín, niêm phong. Hiện đang bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.
Tại cáo trạng số 02/CT-VKSHL ngày 06/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.
Xét tính chất, mức độ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc vẫn giữ nguyên quan điểm về việc truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn như cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 30 đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/9/2021.
Về phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng là ma túy hoàn lại sau giám định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hậu Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và biên bản phạm tội quả tang cũng như những tài liệu chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án. HĐXX đủ cơ sở kết luận:
Vào hồi 19 giờ 00 phút ngày 23/9/2021 tại khu vực thôn Thành Tây, xã Thành Lộc, huyện Hậu Lộc. Tổ công tác của Công an xã Thành Lộc đã phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Văn Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,621 gam chất ma túy loại Methamphetamine và 0,895 gam chất ma túy loại Heroine. Tổng khối lượng 02 chất ma túy tàng trữ là 1,516 gam, mục đích để sử dụng.
Bị cáo có hai tiền án, năm 2005 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 03 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt của hai tội là 06 năm tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/9/2009 chưa được xóa án tích thì đến năm 2013 bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt ngày 26/10/2018. Tuy nhiên, căn cứ khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2017 và điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị Quyết số 41/2017 QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội quy định về các quy định có lợi cho người phạm tội thì hình phạt 06 năm tù năm 2005 của bị cáo thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích nên bị cáo chỉ có một tiền án của năm 2013. Do vậy lần phạm tội này của bị cáo không thuộc trường hợp định khung tăng nặng “tái phạm nguy hiểm” theo điểm p khoản 2 Điều 249 BLHS. Do vậy, Cáo trạng số 02/CT-VKSHL ngày 06/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sư.
Xét thấy tàng trữ ma túy là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến việc quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất an ninh trật tự, an toàn công cộng tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ nhận thức và biết tác hại của ma túy là rất lớn đối với bản thân, gia đình và xã hội. Lại là đối tượng có nhân thân xấu, đã hai lần bị xử phạt về hình sự nhưng không tu dưỡng rèn luyện mà tiếp tục tàng trữ ma túy để sử dụng. Do vậy cần phải xử lý nghiêm, cách ly xã hội đối với bị cáo một thời gian cần thiết để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, thu nhập thấp, tàng trữ trái phép chất ma túy để phục vụ nhu cầu bản thân nên Hội đồng xét xử không phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy;
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 33 (ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/9/2021.
*Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng là ma túy hoàn lại sau giám định theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.
*Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
*Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Hậu Lộc; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Bị cáo; - Tòa án ND tỉnh Thanh Hóa; - Chi cục THADS huyện Hậu Lộc; - Công an huyện Hậu Lộc; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Văn Sang |