- Tranh chấp gì? án hình sự — "TÀNG T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Ngọc R phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2022/HS-ST Ngày 20 - 01 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ - TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Hạnh
Ông Hoàng Hải
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Trực - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2021/TLST-HS ngày 22/12/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2022/QĐXXST-HS ngày 10/01/2022 đối với bị cáo Đặng Ngọc R, sinh ngày 28 tháng 7 năm 1993 tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã H, tỉnh Bình Định; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Lớp 12/12; tiền án, tiền sự: Không; con ông Đặng R – sinh năm 1971, con bà Đặng Thị L – sinh năm 1976; Vợ: Nguyễn Kim H, con: Có hai con, lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2020; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/10/2021 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Ông Đặng Hoàng P – sinh năm 1996
Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã H, tỉnh Bình Định. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:
Khoảng 16 giờ, ngày 12/10/2021 Đặng Ngọc R, sinh ngày 28/7/1993, trú tại: tổ dân phố T, phường Q, thị xã H, tỉnh Bình Định điện thoại cho người thanh niên tên “Tý” có số điện thoại di động 0973990880 ở Sa Huỳnh (không xác định được nhân thân, lai lịch) hỏi mua ma túy đá với số tiền là 800.000đồng thì người này đồng ý và hẹn đến Sa Huỳnh để giao. R điều khiển xe mô tô BKS: 77C1-612.04 đi đến đoạn đường tránh Tây, phường P, thị xã Đ gặp người thanh niên mang khẩu trang, đeo kính (không rõ nhân thân, lai lịch) đứng đợi, R đưa cho người này 800.000đồng, người này chỉ vị trí giấu ma túy trên lan can bảo vệ đường bộ rồi bỏ đi, R đến lấy ma túy giấu vào trong quần và điều khiển xe mô tô quay về, khi đến chốt kiểm soát phòng, chống dịch Covid -19 số 5- thị xã Đức Phổ thuộc thôn V, xã C, thị xã Đ thì bị tổ công tác của Đồn biên phòng Sa Huỳnh phối hợp với Công an thị xã Đức Phổ phát hiện, bắt quả tang, tạm giữ trên người của Đặng Ngọc R 02 túi ni long chứa tinh thể màu trắng, Đặng Ngọc R khai nhận đây là ma túy mua về để sử dụng.
Kết luận giám định số 905/KLGĐ-PC09 ngày 15/10/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi kết luận: Chất rắn, dạng hạt tinh thể màu trắng bên trong phong bì gửi giám định là ma tuý; loại Methamphetamine; khối lượng mẫu: 0,24 gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Cáo trạng số: 04/CT - VKS ngày 21/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo Đặng Ngọc R về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đặng Ngọc R và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 30 tháng tù và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng đề nghị: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động màu xanh ngọc, mặt sau có chữ VIVO, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đức Phổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Đặng Ngọc R đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hành vi tàng trữ trái phép chất Methamphetamine (theo Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ thì chất Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323) của bị cáo nhằm vào mục đích để sử dụng. Theo Kết luận giám định số 905/KLGĐ-PC09 ngày 15/10/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi kết luận: Chất rắn, dạng hạt tinh thể màu trắng bên trong phong bì gửi giám định là ma tuý; loại Methamphetamine; khối lượng mẫu: 0,24 gam. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Nên cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 21/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét tính chất, mức độ và hành vi phạm tội: Xét bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết về pháp luật. Bị cáo thừa hiểu ma túy là một tệ nạn xã hội, gây hậu quả hệ lụy rất lớn cho nhân loại và toàn xã hội nhưng để thỏa mãn cơn nghiện mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, xâm phạm trực tiếp chế độ độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cộng đồng nên cần áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng chống tội phạm. Xét bị cáo có nghề nghiệp nhưng thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ông ngoại bị cáo là liệt sĩ, bản thân bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự tại Sư đoàn 315, Quân khu 5 được tặng Giấy khen là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo Đặng Ngọc R chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị Tòa án cấp nào xét xử về hành vi phạm tội nào.
Đối với đối tượng tên “Tý” ở Sa Huỳnh là người bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh tại địa bàn P nhưng không có người thanh niên nào tên “Tý” sinh sống tại khu vực trên nên Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh và xử lý sau là phù hợp.
Đối với số thuê bao 0973990880 của điện thoại di động do Đặng Ngọc R liên lạc để mua ma túy, theo Viettel Quảng Ngãi cung cấp thì chủ thuê bao có tên là Nguyễn Minh T, địa chỉ: xã P, huyện Đ (nay là phường P, thị xã Đ), Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh nhưng hiện nay Nguyễn Minh T không có mặt tại địa phương, Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau là phù hợp.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đức Phổ đã tạm giữ:
- 01 điện thoại di động màu xanh ngọc, mặt sau có chữ VIVO, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong. Xét vật chứng là công cụ sử dụng vào mục đích phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- 01 xe mô tô BKS 77C1-612.04 của Đặng Hoàng P (em của bị cáo R). Việc bị cáo R mượn xe để đi làm, sau đó đi mua ma túy P không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho Đặng Hoàng P là phù hợp nên không xét.
- Đối với 02 túi ni lông chứa 0,24gam ma túy Methamphetamine đã sử dụng hết trong quá trình giám định nên không xét.
- Đối với số tiền 1.065.000đồng là tiền của bị cáo R, không liên quan đến vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo là phù hợp nên không xét.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận;
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Đặng Ngọc R phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Đặng Ngọc R 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/10/2021.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động màu xanh ngọc, mặt sau có chữ VIVO, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/12/2021 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ và Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã Đức Phổ.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đặng Ngọc R phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND thị xã Đức Phổ; - Cơ quan CSĐT Công an TX.Đức Phổ; - Cơ quan THAHS Công an TX.Đức Phổ; - Chi cục THADS TX.Đức Phổ; - Nhà tạm giữ Công an TX.Đức Phổ; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Đức |