vanban.org

Bản án 04/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Cẩm H đối với ông Ngô Đình Ph; bà Nguyễn Thị Cẩm H được ly hôn với ông Ngô Đình Ph.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Ngô Đình L, sinh năm 2002, con đã trên 18 tuổi và lao động tự túc được nên Hội đồng xét xử không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Cẩm H và ông Ngô Đình Ph không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Cẩm H xin ly hôn Ngô Đình Ph"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Cẩm H đối với ông Ngô Đình Ph; bà Nguyễn Thị Cẩm H được ly hôn với ông Ngô Đình Ph.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP.PH
TỈNH N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 16 - 02 - 2022
Về việc: “Tranh chấp Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN TP. PH, TỈNH N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Từ Công Từ Rượu

Các Hội thẩm nhân dân

Ông Lê Huỳnh Sinh

Ông Trần Văn Bình

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thiên Quan – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ph tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Ph, tỉnh N xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 381/2021/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2021 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 37/2022/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm H , sinh năm 1978

Địa chỉ: Khu phố 3, phường Phủ Hà, thành phố Ph, tỉnh N

- Bị đơn: Ông Ngô Đình Ph, sinh năm 1977

Địa chỉ: Khu phố 3, phường Phủ Hà, thành phố Ph, tỉnh N

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm bà Nguyễn Thị Cẩm H là nguyên đơn trình bày:

* Về quan hệ hôn nhân: Bà Hạnh và ông Ngô Đình Ph chung sống với nhau năm 2001 là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, có tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Phủ Hà, thành phố Ph (Theo giấy chứng nhận kết hôn số: 23, quyển 01/2002 ngày 22/3/2002). Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại khu phố 3, phường Phủ Hà, thành phố Ph, tỉnh N Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn: Do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xích mích nhau, ông Phi có chửi mắng và xúc phạm bà nhiều lần, không quan tâm bà. Mặt khác, ông Phi còn có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác nên đời sống chung vợ chồng không có hạnh phúc.

Hiện vợ chồng đã sống ly thân hơn 06 năm nay, trong thời gian này thì vợ chồng không còn quan tâm nhau nữa, mạnh ai nấy sống, không ai đặt vấn đề trở về chung sống đoàn tụ. Nhận thấy hôn nhân không còn hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được vì vợ chồng không còn tình cảm yêu thương nhau nữa, hiện ông Ngô Đình Ph đang sống chung với người phụ nữ khác nên không thể hàn gắn được, vì vậy bà Nguyễn Thị Cẩm H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Ngô Đình Ph.

* Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Ngô Đình L, sinh năm 2002, con đã trên 18 tuổi, lao động tự túc được.

* Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

* Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung.

Bị đơn là ông Ngô Đình Ph đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án và được triệu tập xét xử hợp lệ, biết nội dung yêu cầu khởi kiện của bà Hạnh nhưng không có ý kiến, không tham gia hòa giải và không có mặt tại phiên tòa sơ thẩm.

Tại phiên tòa hôm nay Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, xét xử vụ án thì Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; đối với bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, phiên hòa giải và xét xử nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Ngô Đình Ph.

- Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm H được ly hôn với ông Ngô Đình Ph. Vợ chồng ông Phi, bà Hạnh có 01 con chung tên Ngô Đình L, sinh năm 2002, con đã trên 18 tuổi, lao động tự túc được nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Bà Nguyễn Thị Cẩm H có đơn yêu cầu được ly hôn với ông Ngô Đình Ph. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp ly hôn”. Ông Ngô Đình Ph là bị đơn trong vụ kiện có địa chỉ tại khu phố 3, phường Phủ Hà, thành phố Ph, tỉnh N Căn cứ vào khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Ph, tỉnh N

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Ngô Đình Ph là bị đơn trong vụ kiện nhưng ông Phi vẫn cố tình vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì về việc xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Cẩm H . Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Ngô Đình Ph là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Cẩm H và ông Ngô Đình Ph đăng ký kết hôn ngày 22/3/2002 tại Ủy ban nhân dân phường Phủ Hà, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, do đó hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Cẩm H và ông Ngô Đình Ph là hợp pháp.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Khoảng năm 2015, vợ chồng thường có mâu thuẫn, cự cãi do tính tình, quan điểm sống vợ chồng không hợp nhau, ông Phi hay chửi mắng, xúc phạm bà nhiều lần. Mặt khác, ông Phi còn có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác nên đời sống chung vợ chồng không có hạnh phúc. Bà Hạnh đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng ông Phi vẫn không sửa đổi. Đối với ông Ngô Đình Ph được tống đạt hợp lệ các văn bản của Tòa án thể hiện việc bà Hạnh yêu cầu xin ly hôn với ông tại Tòa án nhưng ông Phi không có ý kiến, không thể hiện ý chí đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tại tòa, bà Hạnh xác định không còn tình cảm với ông Phi và cương quyết ly hôn. Chính quyền địa phương nơi bà Hạnh đang sinh sống đã xác nhận lời trình bày trên của bà Hạnh là đúng. Điều đó, xét thấy quan hệ hôn nhân của bà Hạnh và ông Phi đã lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận theo đơn yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Cẩm H đối với ông Ngô Đình Ph.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Ngô Đình L, sinh năm 2002, con đã trên 18 tuổi và lao động tự túc được nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Hạnh trình bày tài sản tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết. Ông Phi không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Cẩm H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Cẩm H đối với ông Ngô Đình Ph; bà Nguyễn Thị Cẩm H được ly hôn với ông Ngô Đình Ph.

2. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Ngô Đình L, sinh năm 2002, con đã trên 18 tuổi và lao động tự túc được nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Cẩm H và ông Ngô Đình Ph không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Cẩm H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003571 ngày 18 tháng 10 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ph, tỉnh N Bà Nguyễn Thị Cẩm H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 16/02/2022). Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ