vanban.org

Bản án 04/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đinh Trần Thanh T. Cho bà Đinh Trần Thanh T và ông Nguyễn Như H được ly hôn.

Về nuôi con chung: 1 Giao con chung tên: Nguyễn Như Thủy Ng, sinh ngày 15/102018. cho bà Đinh Trần Thanh T là mẹ trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành, bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TUYEN - HIEP"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đinh Trần Thanh T. Cho bà Đinh Trần Thanh T và ông Nguyễn Như H được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Quyết định số 326/2014/QĐ-UBND Về việc sửa đổi, bổ sung Quy…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 04/2022/HNGĐ- ST
Ngày: 24/01/2022.
“V/v: Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Văn Điền

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Bà Mai Lương Anh

+ Ông Từ Hồng Hải

Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Ngọc Phú - Là thư ký Toà án của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 427/2021/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2021 về “Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2021, ngày 17/12/2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 03/2022/QĐST-HNGĐ ngày 07/01/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đinh Trần Thanh T, sinh năm: 1982.

Địa chỉ: số 60, đường Khe Sanh, phường B, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm

Đồng.

Bị đơn: Ông Nguyễn Như H, sinh năm: 1980

Địa chỉ: số 60, đường Khe Sanh, phường B Thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm

Đồng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 01 tháng 10 năm 2021 nộp tại Tòa án thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Đinh Trần Thanh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: bà Đinh Trần Thanh T kết hôn với ông Nguyễn Như H kết hôn vào năm 2015 tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố Đà Lạt, hôn nhân tự nguyện có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại số 60, đường Khe Sanh, phường B, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tiền bạc vợ chồng thường xuyên xúc phạm lẫn nhau. Vợ chồng đã sống ly thân. Nay bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn, quan hệ hôn nhân không thể hàn gắn được. Nên bà T yêu cầu tòa cho bà T được ly hôn ông Nguyễn Như H.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Như Thủy Ng, sinh ngày 15/10/2018. Hiện nay con đang ở với mẹ (Bà Đinh Trần Thanh T). Ly hôn bà T yêu cầu được nuôi con không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung:Không có.

Về nợ chung: Không có nợ chung.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, đã tống đạt, niêm yết thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, kết quả tiếp cận công khai chứng cứ theo quy định của pháp luật nhưng ông Hiệp cũng không đến tòa. Nên Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên Tòa hôm nay: bà T vẫn yêu cầu xin ly hôn ông H, bà T yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

Đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:

Vụ án thụ lý đúng trình tự theo luật quy định. Về việc tuân theo pháp luật của thẩm phán từ khi nhận đơn đến lúc đưa vụ án ra xét xử, xác định tư cách tham gia tố tụng, tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự cũng như chứng cứ của vụ án, việc hòa giải đều đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đến trước thời điểm nghị án đảm bảo đúng quy định.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Trần Thanh T với ông Nguyễn Như H kết hôn vào năm 2015, hôn nhân tự nguyện. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tiền bạc vợ chồng thường xuyên xúc phạm lẫn nhau. Vợ chồng đã sống ly thân. Nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Như Thủy Ng, sinh ngày 15/10/2018. Hiện nay con đang ở với mẹ (Bà Đinh Trần Thanh T). Ly hôn giao con chung là cháu Nguyễn Như Thủy Ng, sinh ngày 15/10/2018 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên. Bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Đinh Trần Thanh T yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Như H nên xác định quan hệ tranh chấp“Xin ly hôn” theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ông H có hộ khẩu tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, nên căn cứ Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng giải quyết.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành triệu tập, niêm yết hợp lệ nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Do đó căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

Về quan hệ hôn nhân: bà T và ông H có đăng ký kết, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tiền bạc vợ chồng thường xuyên xúc phạm lẫn nhau

Tại phiên tòa cũng như trong quá trình giải quyết vụ án đã động viên bà T trở vể đoàn tụ gia đình để nuôi dạy con cái nhưng bà T không đồng ý và xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể tiếp tục nên xin được ly hôn ông H.

Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay ông H đã được triệu tập, tống đạt, niêm yết hợp lệ nhưng vẫn không đến tòa thể hiện sự không tôn trọng pháp luật, hơn nữa không mong muốn đoàn tụ gia đình. Qua lời khai của nguyên đơn tại phiên tòa cũng như các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ thể hiện việc mâu thuẫn vợ chồng là có xảy ra.

Tại biên bản xác minh khu phố việc mâu thuẫn của vợ chồng bà T và ông H khu phố không biết nên không có cơ sở để hòa giải và cung cấp cho Tòa.

Từ những nhận định trên chứng tỏ vợ chồng chung sống với nhau không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy; dụng Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014 xử cho bà Đinh Trần Thanh T và ông Nguyễn Như H được ly hôn là có căn cứ.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Như Thủy Ng, sinh ngày 15/10/2018. Hiện nay con đang ở với mẹ (Bà Đinh Trần Thanh T). Ly hôn giao con chung là cháu Nguyễn Như Thủy Ng, sinh ngày 15/102018 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên. Bà không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đề cập.

Về án phí: bà Tuyền phải chịu toàn bộ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 28, 35, 36, 39, 147 và Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ vào Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2014/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án Dân sự

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đinh Trần Thanh T. Cho bà Đinh Trần Thanh T và ông Nguyễn Như H được ly hôn.

2. Về nuôi con chung:

2.1 Giao con chung tên: Nguyễn Như Thủy Ng, sinh ngày 15/102018. cho bà Đinh Trần Thanh T là mẹ trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành, bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp, không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, quyền thăm nom con, thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Về án phí: bà Đinh Trần Thanh T phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm (được trừ toàn bộ vào số tiền 300.000đồng bà T đã tạm nộp theo biên lai thu số: 0001068 ngày 06 tháng 10 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Quyền kháng cáo:

Bà Đinh Trần Thanh T có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng ông Nguyễn Như H vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ( niêm yết) bản án.

Cỡ chữ