vanban.org

Bản án 04/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 27/12/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị B, cho chị Phan Thị B được ly hôn anh Nguyễn Văn A.

Con chung, tài sản chung, công nợ: Không có. Án phí: Chị Phan Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị B đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số: AA/2021/0000245 ngày 12/10/2022 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Bắc Ninh. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình - Phan Thị B - Nguyễn Văn A"
  • Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị B, cho chị Phan Thị B được ly hôn anh Nguyễn Văn A.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 27/12/2022
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tuyết Mai.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Phương.

Bà Hoàng Thị Liễu.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh: Ông Nguyễn Huy Quang

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 27 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2022/TLST-HNGĐ ngày 14/10/2022 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 08A/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phan Thị B, sinh năm 1994. Vắng mặt; HKTT: Thôn X, xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trú tại: Cao Hùng, Đài Loan.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn A, sinh năm 1986. Vắng mặt; HKTT: Thôn X, xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trú tại: Đài Bắc, Đài Loan.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1992

HKTT: Tầng 8, phòng X, Tòa nhà Vigracera, phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (là người nhận văn bản thay chị Phan Thị B).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Phan Thị B gửi văn bản trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn A kết hôn ngày 21/06/2019, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn chị về chung sống với anh A tại thôn An Động, xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh được một tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp trong cách sống, cách chi tiêu sinh hoạt trong gia đình nên thường xuyên cãi nhau. Sau đó, chị đi thuê nhà trọ ở, vợ chồng sống ly thân, trong thời gian này chị nhiều lần nói chuyện với anh A để hàn gắn nhưng không có kết quả, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Đến cuối năm 2020, chị đi lao động ở Đài Loan, vợ chồng không liên lạc với nhau, tình cảm không còn. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án được ly hôn với anh Nguyễn Văn A.

Con chung, tài sản chung và công nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn A có văn bản gửi về Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh trình bày: Anh và chị B có tìm hiểu và đăng kí kết hôn ngày 21/06/2019 tại UBND xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình chung sống được thời gian ngắn thì nảy sinh nhiều mâu thuẫn, do không hòa hợp trong suy nghĩ, thói quen sinh hoạt cũng như cách chi tiêu quản lý tài chính gia đình, hai bên không hiểu nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Sau khi kết hôn được một tháng thì anh đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, mỗi người làm việc một nơi, không ai quan tâm đến ai. Theo đơn xin ly hôn của chị B thì anh đồng ý ly hôn.

Con chung, tài sản chung và công nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Phan Thị B và anh Nguyễn Văn A xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án đến khi Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật; các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.

Về đường lối giải quyết vụ án, Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Cho chị Phan Thị B được ly hôn với anh Nguyễn Văn A. Con chung, tài sản chung và công nợ: Không có, không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Thủ tục tố tụng:

Chị Phan Thị B hiện sinh sống tại Đài Loan có đơn yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn A hiện cũng sinh sống tại Đài Loan. Căn cứ Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Nội dung:

- Quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị B và anh Nguyễn Văn A kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo mọi điều kiện kết hôn theo luật định. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của chị Phan Thị B và anh Nguyễn Văn A là hợp pháp.

Quá trình chung sống, ban đầu vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Sau khi anh A đi Đài Loan thì vợ chồng sống xa nhau, ít khi liên lạc và quan tâm đến nhau nên tình cảm vợ chồng phai nhạt. Chị B xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn anh A.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh A có gửi lời khai về Tòa án trình bày giống như chị B. Anh A xác nhận anh kết hôn với chị B tháng 6/2019, ban đầu vợ chồng ở chung sau đó ở riêng, quá trình chung sống không hợp nhau nên đã sống ly thân. Tháng 7/2019, anh A đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan nên vợ chồng không quay về với nhau nữa.

Xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị B và anh A đã trở nên trầm trọng, cuộc sống chung không hạnh phúc do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Vì vậy yêu cầu ly hôn của chị B là có căn cứ, phù hợp với thực tế cuộc sống vợ chồng nên được chấp nhận.

- Con chung, tài sản chung và công nợ: Không có, các đương sự cũng không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Án phí: Chị Phan Thị B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 29, Điều 37, Điều 38, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 264, Điều 266, Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

1. Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị B, cho chị Phan Thị B được ly hôn anh Nguyễn Văn A.

2. Con chung, tài sản chung, công nợ: Không có.

4. Án phí: Chị Phan Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị B đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số: AA/2021/0000245 ngày 12/10/2022 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Bắc Ninh.

Án xử sơ thẩm, chị Phan Thị B, anh Nguyễn Văn A có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được tống đạt bản bản án./.

Cỡ chữ