- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Ph ly hôn anh Nguyễn Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN K THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2022/HNGĐ-ST Ngày 20-01-2022 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Minh Th
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn L
Bà Hoàng Thị C
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị T - Thư ký Toà án nhân dân quận K, thành phố H
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K, thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Đ, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận K, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 129/2021/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 986/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên toà số 19/2022/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 01năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ph; nơi cư trú: Tổ 15, phường B, quận K, thành phố H; vắng mặt tại phiên toà, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H; nơi cư trú: Tổ 15, phường B, quận K, thành phố H; vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là chị Trần Thị Ph trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đ huyện A, thành phố H vào ngày 06 tháng 6 năm 2012. Sau khi kết hôn, chị và anh về sống chung tại Đ, A, thành phố H. Đến năm 2014, chị và anh H mua nhà và về sống tại Tổ 15, phường B, quận K, thành phố H. Quá trình chung sống, vợ chồng chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do tính cách hai bên không hợp nhau, vợ chồng bất đồng nhau về quan điểm sống. Mặc dù đã được gia đình hai bên động viên, khuyên giải để giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả mà ngày càng căng thẳng hơn. Đến nay chị xác định tình cảm của chị đối với anh Nguyễn Văn H không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng và trầm trọng, không thể đoàn tụ được nữa nên chị đề nghị Toà án nhân dân quận K giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn H có 02 con chung là Nguyễn Yến Nh, sinh ngày 04/11/2012 và Nguyễn Mai Ph, sinh ngày 08/7/2018. Chị nhận nuôi con chung là Nguyễn Mai Ph, để anh H nuôi con chung là Nguyễn Yến Nh đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản và công nợ của vợ chồng.
Anh Nguyễn Văn H là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên quá trình tham gia tố tụng, anh Nguyễn Văn H trình bày:
Anh và chị Trần Thị Ph kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, thành phố H vào ngày 06/6/2012. Sau khi kết hôn, anh và chị sống chung tại Đ, A. Đến năm 2014, vợ chồng anh xây nhà và về sống tại Tổ 15, phường B, quận K, thành phố H. Quá trình chung sống, anh và chị Ph không có mâu thuẫn nên anh không đồng ý ký đơn ly hôn. Nếu chị Ph vẫn cương quyết xin ly hôn thì tùy ý chị Ph. Về con chung, anh và chị Ph có 02 con chung là Nguyễn Yến Nh, sinh ngày 04/11/2012 và Nguyễn Mai Ph, sinh ngày 08/7/2018. Trường hợp ly hôn thì anh đồng ý để chị Ph nuôi con chung là Nguyễn Mai Ph, anh nhận nuôi con chung là Nguyễn Yến Nh đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và về tài sản chung anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K, thành phố H: Quá trình tiến hành tố tụng của Tòa án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự; Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử về cơ bản đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho chị Trần Thị Ph được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Yến Nh cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao con chung là Nguyễn Mai Ph cho chị Trần Thị Ph trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và về tài sản chung do chị Ph, anh H không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Về án phí, buộc chị Ph phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Văn H là bị đơn, hiện cư trú tại Tổ dân phố 15, phường B, quận K, thành phố H, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận K, thành phố H theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Tòa án nhân dân quận K đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Nguyễn Văn H không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn H. Chị Trần Thị Ph đã được Tòa án triệu tập lần 2 nhưng chị Ph vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Trần Thị Ph.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Ph và anh Nguyễn Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện A, thành phố H ngày 06 tháng 6 năm 2012. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Căn cứ vào lời khai của chị Trần Thị Ph và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định chị Trần Thị Ph và anh Nguyễn Văn H trong quá trình chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, không còn tình cảm với nhau. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, lối sống, tính cách không hợp nhau. Như vậy mâu thuẫn vợ chồng giữa Trần Thị Ph và anh Nguyễn Văn H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Ph là phù hợp pháp luật và thực tế vụ kiện, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Chị Trần Thị Ph và anh Nguyễn Văn H có 02 con chung là Nguyễn Yến Nh, sinh ngày 04/11/2012 và Nguyễn Mai Ph, sinh ngày 08/7/2018. Tài liệu xác minh và lời khai của anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị Ph thể hiện: Anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị Ph đều có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, do vậy Hội đồng xét xử giao con chung là Nguyễn Yến Nh cho anh Nguyễn Văn H chăm sóc, nuôi dưỡng; giao con chung là Nguyễn Mai Ph cho chị Trần Thị Ph chăm sóc nuôi dưỡng theo yêu cầu của anh H, chị Ph. Yêu cầu này của anh H, chị Ph phù hợp với nguyện vọng của các cháu. Đây cũng là quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K, thành phố H tại phiên tòa . Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, do chị Ph, anh Hg không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Trần Thị Ph và anh Nguyễn Văn H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về tài sản.
Về án phí: Chị Trần Thị Ph phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Ph ly hôn anh Nguyễn Văn H.
2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị Mai Ph, sinh ngày 08 tháng 7 năm 2018 cho chị Trần Thị Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao con chung là Nguyễn Yến Nh, sinh ngày 04 tháng 11 năm 2012 cho anh Nguyễn Văn H tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, do chị Phượng, anh Hồng không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung và công nợ: Chị Trần Thị Ph và anh Nguyễn Văn H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Chị Trần Thị Ph phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003583 ngày 11 tháng 11 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận K, thành phố H, chị Trần Thị Ph đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Ph và anh Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND quận K; - VKSND thành phố H; - TAND thành phố H; - Chi cục THADS quận K; - UBND xã Đ, huyện A, thành phố H (ĐKHK: 06/6/2012); - Lưu: VT, Hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Minh Th |