vanban.org

Bản án 04/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Phương Gi về việc “Ly hôn” đối với ông Lương Khắc Ng.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Phương Gi được ly hôn với ông Lương Khắc Ng. 2/ Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Phương Giao- Lương Khắc Nguyên"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Phương Gi về việc “Ly hôn” đối với ông Lương Khắc Ng.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN X
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 17/01/2022
“V/v Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN X - TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Phượng

Các hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Bùi Mạnh Quyết

2/ Ông Trần Văn Nhị

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Long An.

Ngày 17 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện X xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 196/2021/TLST-HNGĐ, ngày 03/11/2021 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2021/QĐST-HNGĐ, ngày 15/12/2021 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Phƣơng Gi, sinh năm 2000. Địa chỉ: Ấp BN, xã ML, huyện X, tỉnh Long An.

* Bị đơn: Ông Lƣơng Khắc Ng, sinh năm 1997. Địa chỉ: Ấp BM, xã ML, huyện X, tỉnh Long An.

(Bà Nguyễn Thị Phương Gi có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Lương Khắc Ng vắng mặt.)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phương Gi trong suốt quá trình giải quyết vụ án có nội dung như sau:

Bà và ông Ng tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn ngày 26/7/2018 tại Ủy ban nhân dân xã ML, huyện X, tỉnh Long An. Thời gian đầu vợ chồng bà chung sống hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn ngày càng gay gắt, thường xuyên cãi nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông Ng không chăm lo cho gia đình và con cái. Bà đã khuyên nhủ nhưng ông Ng không thay đổi. Hai người đã sống ly thân từ tháng 01/2021 đến nay. Do không thể hàn gắn được mối quan hệ hôn nhân này, nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Ng.

Về con chung: Bà và ông Ng có 01 con chung tên Lương Khắc M, sinh ngày 26/3/2017. Khi ly hôn, bà nhường quyền nuôi con cho ông Ng. Bà cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Lương Khắc Ng trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vẫn vắng mặt, không làm bản tự khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào và không có văn bản ý kiến phản hồi hay yêu cầu gì đối với việc khởi kiện của bà Gi, cũng như vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm.

Tòa án tiến hành thụ lý vụ án, hòa giải nhưng không được do ông Ng vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Thủ tục tố tụng:

Bà Nguyễn Thị Phương Gi nộp đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Lương Khắc Ng. Căn cứ nơi cư trú của bị đơn, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện X theo quy định tại Điều 28 và Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Nguyễn Thị Phương Gi có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Lương Khắc Ng vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để xét xử nên Tòa án giải quyết vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Gi và ông Ng được pháp luật công nhận là vợ chồng. Nay bà Gi kiên quyết xin ly hôn với ông Ng vì không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân. Ông Ng không đưa ra được bất kỳ giải pháp nào để hàn gắn và vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án thể hiện ông không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ hôn nhân này. Do đó, Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn trong hôn nhân giữa 2 bên là trầm trọng, yêu cầu xin ly hôn của bà Gi có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung:

Bà Gi xác định bà và ông Ng có 01 con chung tên Lương Khắc M đang ở với ông Ng. Khi ly hôn, bà Gi nhường quyền nuôi dưỡng con chung cho ông Ng. Bà sẽ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng. Xét thấy, ông Ng không có ý kiến phản đối gì về việc bà Gi nhường quyền nuôi con cho ông. Do đó, giao con chung Lương Khắc M cho ông Lương Khắc Ng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Gi tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Do ông Ng không có ý kiến phản đối và việc bà Gi cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 82, Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Gi. Bà Gi phải cấp dưỡng nuôi Lương Khắc M mỗi tháng 2.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 02/2022 cho đến khi Lương Khắc M đủ 18 tuổi.

Mặc dù không trực tiếp nuôi dưỡng con chung, nhưng bà Gi được quyền đến thăm, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của con chung thì cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình có quyền làm đơn yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con; mức cấp dưỡng nuôi con.

Về nợ chung: Cho đến khi xét xử sơ thẩm, không có ai khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về việc nợ chung của vợ chồng bà Gi và ông Ng nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết trong vụ án này. Nếu sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung: Bà Gi xác định không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Ng không có ý kiến gì về tài sản chung nên Tòa án không xem xét. Sau này, các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

Từ các phân tích trên, yêu cầu khởi kiện của bà Gi là có căn cứ chấp nhận toàn bộ.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà Gi phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Ông Ng không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, 35, 147, 227, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 84, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Phương Gi về việc “Ly hôn” đối với ông Lương Khắc Ng.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Phương Gi được ly hôn với ông Lương Khắc Ng.

2/ Về con chung:

Giao 01 con chung tên Lương Khắc M, sinh ngày 26/3/2017 cho ông Lương Khắc Ng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc bà Nguyễn Thị Phương Gi phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Lương Khắc M, sinh ngày 26/3/2017 mỗi tháng 2.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 02/2022 cho đến khi Lương Khắc Minh đủ 18 tuổi.

Mặc dù không trực tiếp nuôi dưỡng con chung, nhưng bà Nguyễn Thị Phương Gi được quyền đến thăm, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của con chung thì cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình có quyền làm đơn yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con; mức cấp dưỡng nuôi con.

3/ Về án phí:

Bà Nguyễn Thị Phương Gi phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002045, ngày 03/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X, tỉnh Long An. Bà Nguyễn Thị Phương Gi phải nộp thêm 300.000 đồng án phí sung công quỹ Nhà nước.

Ông Lương Khắc Ng không phải chịu án phí.

4/ Án xử sơ thẩm, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

5/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ