- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Lê Thị T yêu cầu ly hôn với ông Lê Văn D"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M’ĐRẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 04/2022/HNGĐ-ST Ngày 30 tháng 3 năm 2022 “V/v: Ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M’ĐRẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đức Hợi;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hợi; Bà Đặng Thị Bích Hồng.
- Thƣ ký phiên tòa: Ông Phạm Xuân Quyết – Thư ký Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông: Y Gon Niê - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2022 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 10/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 02 năm 2022 về việc “Ly hôn nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1987. Địa chỉ: 104 T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Ông Lê Văn D, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn 1, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Hiện đang chấp hành án tại trại giam Đ. Địa chỉ: Thôn 01, xã E, huyện M, tỉnh Đắk Lắk.
Bà T ông D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 02 năm 2022 và các lời khai của nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày:
Bà Lê Thị T và ông Lê Văn D tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 04/10/2017 tại UBND xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, nguyên nhân chủ yếu do ông D không chịu chăm lo làm ăn, thường xuyên chửi mắng vợ con và cả hai đã không sống chung với nhau từ lâu, bà T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông D.
1
Bà T,và ông D có một con chung là Lê Thị Quỳnh N, sinh ngày 28/4/2017. Bà T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con chung cho đến khi đủ 18 tuổi sau khi vợ chồng ly hôn.
Về tài sản: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Lê Văn D trình bày:
Ông Lê Văn D đồng ý toàn bộ phần trình bày của bà Lê Thị T về ly hôn, con chung và tài sản chung. Do ông D đang chấp hành án tại Trại giam nên đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt ông D.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX) tại phiên tòa đảm bảo đúng quy định về trình tự thủ tục tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt tại phiên tòa, đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vắng mặt các đương sự. Về nội dung, yêu cầu của nguyên đơn là chính đáng, có cơ sở nên cần chấp nhận.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn hiện đang chấp hành án tại trại giam Đắk Tân địa chỉ tại: Thôn 01, xã E, huyện M, tỉnh Đắk Lắk, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.
Nguyên đơn và bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông D tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2017 tại UBND xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk là phù hợp với quy định của pháp luật. Cả hai đều cho rằng tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm chăm sóc cho nhau. Bà T và ông D đã không còn chung sống với nhau từ lâu. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông D đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình đề giải quyết cho bà T và ông D được ly hôn.
2
Về con chung: Bà T và ông D có một con chung là Lê Thị Quỳnh N, sinh ngày 28/4/2017. Do con đang còn nhỏ, hiện nay con đang sống cùng với bà T, các đương sự thỏa thuận bà T tiếp tục nuôi con là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp, đảm bảo quyền lợi chung của con. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình để giao con cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục sau khi vợ chồng ly hôn.
Về cấp dưỡng và tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không xem xét. Trong trường hợp tranh chấp xảy ra sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện riêng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nếu các đương sự có yêu cầu.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng tiền án phí Dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 220, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 56, khoản 2 Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Lê Thị T được ly hôn vối ông Lê Văn D.
2. Về con chung: Giao cho bà Lê Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con Lê Thị Quỳnh N, sinh ngày 28/4/2017 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi).
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
3.Về án phí: Nguyên đơn bà Lê Thị T chịu 300.000 đồng tiền án phí Dân sự về Hôn nhân và gia đình, khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 60AA/2021/0009302 ngày 08/02/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bán án được niêm yết.
3
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận : -TAND tỉnh ĐắkLắk; -VKSND huyện M’Đrắk; -THADS huyện M’Đrắk; -Trại giam Đắk Tân; -UBND xã E, H.E; -Đương sự; -Lưu HS. | Võ Đức Hợi 4 |