vanban.org

Bản án 04/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử không công nhận chị Lý Thị L và anh Phùng Văn L là vợ chồng.

Về con chung: Xử công nhận sự thỏa thuận của chị Lý Thị L và anh Phùng Văn L về con chung như sau: Chị Lý Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu Phùng Thị Tr - Sinh ngày: 18/7/2011; Anh Phùng Văn L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu Phùng Văn Đ - Sinh ngày: 17/7/2016 cho đến kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi dưỡng con chung giữa chị Lý Thị L và anh Phùng Văn L."
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử không công nhận chị Lý Thị L và anh Phùng Văn L là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2022/HNGĐ - ST
Ngày 02/3/2022
V/v " Ly hôn, tranh chấp về nuôi dưỡng
con chung khi ly hôn ”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Như Long

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Phạm Tuấn Thịnh

2. Bà: Trần Thị Huệ

Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thanh Tuyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai.

Ngày 02 tháng 3 năm 2022. Tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 233/2021/TLST - HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi dưỡng con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2022 giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Chị Lý Thị L.

Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có mặt tại phiên toà.

2- Bị đơn: Anh Phùng Văn L.

Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của chị Lý Thị L và các bản tự khai cùng các tài liệu chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án thì chị Lý Thị L và anh Phùng Văn L đều xác nhận anh, chị về chung sống với nhau như vợ chồng, trên cơ sở tự nguyện từ thời gian năm 2010, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương nhưng không đăng ký kết hôn. Sau ngày cưới anh, chị về chung sống với nhau tại Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai và đã có 02 con chung với nhau Đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong làm ăn và tạo dựng cuộc sống gia đình và nuôi dạy con cái, Anh Phùng Văn L thường xuyên rượu chè, đánh đập, chửi bới vợ con, dẫn đến việc thiếu sự tôn trọng đối với bản thân và đôi bên gia đình. Thực tế anh chị đã tự sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Khi mâu thuẫn xảy ra anh, chị đã được hai bên gia đình, anh em bạn bè khuyên giải nhiều lần nhưng đều không có kết quả. Nhận thấy tình cảm không còn, ngày 14/12/2021 chị Lý Thị L đã làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện B giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phùng Văn L theo quy định của pháp luật.

Anh Phùng Văn L xác nhận anh và chị Lý Thị L về chung sống với nhau như vợ chồng, trên cơ sở tự nguyện từ thời gian năm 2010, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương nhưng không đăng ký kết hôn. Sau ngày cưới anh, chị về chung sống với nhau tại Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai và đã có 02 con chung với nhau đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong làm ăn và tạo dựng cuộc sống gia đình và nuôi dạy con cái, trong cuộc sống anh chị thường xuyên sảy ra cãi chửi nhau, thiếu sự tôn trọng đối với bản thân và đôi bên gia đình. Đến nay chị Lý Thị L có yêu cầu xin được ly hôn anh cũng nhất trí vì thực tế tình cảm không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc.

Về con chung: Chị Lý Thị L và anh Phùng Văn L đều xác nhận trong thời gian chung sống cho đến nay anh, chị đã có 02 con chung.

Cháu lớn: Phùng Thị Tr - Sinh ngày: 18/7/2011;

Cháu thứ hai: Phùng Văn Đ - Sinh ngày: 17/7/2016;

Hiện nay cả 02 cháu đều khỏe mạnh phát triển bình thường và cháu lớn đang ở cùng với chị, cháu nhỏ đang ở cùng với anh tại thôn Bản Lọt, Bản Cầm, huyện B, tỉnh Lào Cai. Khi ly hôn chị Lý Thị L và anh Phùng Văn L thỏa thuận để chị Lý Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu Phùng Thị Tr và để anh Phùng Văn L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu Phùng Văn Đ cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung: Chị Lý Thị L và anh Phùng Văn L đều xác nhận trong thời gian chung sống anh, chị có tạo dựng được một số tài sản chung nhưng trị giá không lớn. Nên khi ly hôn anh chị tự thỏa thuận chia và đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Chị Lý Thị L và anh Phùng Văn L đều xác nhận trong thời gian chung sống anh chị không vay nợ của ai và cũng không cho ai vay nợ gì nên khi ly hôn anh, chị đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm vấn công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:

.Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị L và anh Phùng Văn L chung sống với nhau như vợ chồng từ thời gian năm 2010, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Cũng từ đó cho đến nay anh chị không đến cơ quan nhà nước thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do vậy Hội đồng xét xử xác định đây là cuộc hôn nhân bất hợp pháp không được pháp luật thừa nhận. Sau ngày cưới anh, chị về chung sống hòa thuận hạnh phúc đã có 02 con chung với nhau đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính dẫn đến việc chị Lý Thị L làm đơn xin ly hôn anh Phùng Văn L là do quan điểm, cách sống không thống nhất với nhau trong làm ăn tạo dựng cuộc sống gia đình và nuôi dạy con cái. Xuất phát từ đó anh, chị thường xuyên xảy ra cãi chửi lẫn nhau, thiếu sự tôn trọng đối với bản thân và đôi bên gia đình. Khi mâu thuẫn xảy ra anh, chị đã được hai bên gia đình, anh em bạn bè khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Thực tế anh, chị đã tự sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, ngày 14/12/2021 chị Lý Thị L đã làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện B giải quyết cho chị và anh Phùng Văn L được ly hôn.

Trong quá trình giải quyết vụ án anh Phùng Văn L cũng xác nhận anh và chị Lý Thị L về chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Về nguyên nhân mâu thuẫn như chị Lý Thị L trình bầy là đúng. Đến nay chị Lý Thị L có yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn anh Phùng Văn L cũng nhất trí với lý do tình cảm giữa anh chị không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc.

Xét thấy việc chung sống của chị Lý Thị L và anh Phùng Văn L là trái với các qui định của pháp luật về hôn nhân và gia đình. Tại phiên tòa hôm nay chị Lý Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho anh chị được ly hôn. Anh Phùng Văn L cũng nhất trí với lý do tình cảm không còn, cuộc sông chung không hạnh phúc. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của chị Lý Thị L và anh Phùng Văn L tại phiên tòa là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử cần cần chấp nhận và xử không công nhận chị Lý Thị L và anh Phùng Văn L là vợ chồng là có căn cứ phù hợp với Khoản 1 Điều 9; Khoản 1 Điều 14; Khoản 2 Điều 53 luật hôn nhân và gia đình.

.Về con chung: Chị Lý Thị L và anh Phùng Văn L đều xác nhận trong thời gian chung sống cho đến nay anh, chị đã có 02 con chung.

Cháu lớn: Phùng Thị Tr - Sinh ngày: 18/7/2011;

Cháu thứ hai: Phùng Văn Đ - Sinh ngày: 17/7/2016;

Hiện nay các cháu đều khỏe mạnh phát triển bình thường và đang ở với cùng vớ anh, chị tại Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Khi ly hôn chị Lý Thị L và anh Phùng Văn L thỏa thuận để chị Lý Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Phùng Thị Tr và để anh Phùng Văn L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Phùng Văn Đ cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung. Tại phiên tòa hôm nay xét thấy sự thỏa thuận của chị Lý Thị L và anh Phùng Văn L về con chung. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với các quy định tại Khoản 1 Điều 14; Điều 15, 81,82, 83 luật hôn nhân và gia đình, phù hợp với tâm tư và nguyện vọng của các cháu. Đảm bảo được quyền, lợi ích về mọi mặt cho các cháu. Nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Về tài sản chung: Chị Lý Thị L và anh Phùng Văn L đều xác nhận trong thời gian chung sống anh chị có tạo dựng được một số tài sản chung nhưng trị giá không lớn. Khi ly hôn anh chị tự thỏa thuận chia không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về công nợ chung: Chị Lý Thị L và anh Phùng Văn L đều xác nhận trong thời gian chung sống anh chị không vay nợ gì của ai và cũng không cho ai vay nợ gì nên khi ly hôn anh chị đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

. Về án phí: Chị Lý Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 9; Khoản 1 Điều 14; Điều 15; Khoản 2 Điều 53; Điều 81, 82, 83 luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1.Về quan hệ hôn nhân: Xử không công nhận chị Lý Thị L và anh Phùng Văn L là vợ chồng.

2. Về con chung: Xử công nhận sự thỏa thuận của chị Lý Thị L và anh Phùng Văn L về con chung như sau: Chị Lý Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu Phùng Thị Tr - Sinh ngày: 18/7/2011; Anh Phùng Văn L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu Phùng Văn Đ - Sinh ngày: 17/7/2016 cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung.

Sau khi ly hôn chị Lý Thị L và anh Phùng Văn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Lý Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0002783 ngày 17/12/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lào Cai.

Xác nhận chị Lý Thị L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho nguyên đơn, bị đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ