vanban.org

Bản án 04/2022/DSST — Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ăn cứ vào các Điều 203 Điều 167 uật đất đai khoản 2 Điều 129, các Điều 117 Điều 119 Điều 120 Điều 500 Điều 501 Điều 502 và Điều 503 Bộ luật dân sự; các Điều 227 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường …

ông nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập giữa bà Lê Thu N với ông Huỳnh ong T vào ngày 12/12/2020 có hiệu lực. Bà Lê Thu N được toàn quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn với đất theo quy định của pháp luật đối với mảnh đất có diện tích 1216.9m2, đất trồng cây lâu năm trong tổng diện… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất — án dân sự — "Dân sự"
  • Tòa quyết gì? ăn cứ vào các Điều 203 Điều 167 uật đất đai khoản 2 Điều 129, các Điều 117 Điều 119 Điều 120 Điều 500 Điều 501 Điều 502 và Điều 503 Bộ luật dân sự; các Điều 227 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường …
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BÌNH LONG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2022/DSST
Ngày 05 – 4 – 2022
V/v: “Tranh chấp Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

T A N NH N N THỊ

B NH ONG TỈNH B NH HƯ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông ê Đình T

Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông ưu Huy H

2. Bà Vũ Thị

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Q, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Long.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình ong tham gia phiên tòa:

Bà Đỗ Thị Minh – Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 3 năm 2022 tại trụ s Tòa án nhân dân thị xã Bình ong x t xử sơ thẩm công khai và tuyên án vào ngày 05/4/2022 đối với vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 121/2021/TLST- DS ngày 04 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra x t xử số: 07/2022/QĐST – DS, ngày 28/02/2022, về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thu N sinh năm 1970 ( ó mặt)

Địa chỉ: Tổ 02 khu phố T, phường A L thị xã B L tỉnh Bình hước

- Bị đơn: Ông Huỳnh ong T sinh năm 1973 ( ó mặt)

Địa chỉ: Tổ 9 khu phố C phường H C thị xã B L tỉnh Bình hước.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Hồ Thị , sinh năm 1950 ( ó mặt)

Địa chỉ: Tổ 9 khu phố C phường H C thị xã B L tỉnh Bình hước.

2. Bà Trần Thị Bích T sinh năm 1970 (Vắng mặt)

Địa chỉ và nơi cư trú cuối cùng: Tổ 9 khu phố C phường H C thị xã B L, tỉnh Bình hước.

3. Ủy ban nhân dân thị xã Bình ong

Người đại diện theo pháp luật: hủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Bình ong

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Tô Mạnh H, Phó phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Bình Long (Xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản khai tại Tòa án, cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo của nguyên đơn bà Lê Thu N trình bày: Ngày 12/12/2020 bà N ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Huỳnh ong T theo đó bà N nhận chuyển nhượng mảnh đất có diện tích 1216.9m2 trong đó có 50m2 đất đô thị trong tổng diện tích 2.300,6m2 thuộc thửa số 84 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại tổ 9 khu phố X C phường H C thị xã B L tỉnh Bình hước được Ủy ban nhân dân thị xã Bình ong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất BE 488450 ngày 25/4/2012 đứng tên hộ ông Huỳnh ong T. Giá trị chuyển nhượng là 900.000.000 đồng Bà N đã trả 500.000.000 đồng trong đó tiền trả nợ cho ông T tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - hi nhánh thị xã Bình ong 285.00.000 đồng 215.000.000 đồng là trả tiền trực tiếp nhiều lần cho ông T. Đến nay ông T chưa thực hiện xong việc tách thửa chuyển quyền sử dụng đất cho bà N. Nay bà N yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thu N với ông Huỳnh ong T, buộc ông Huỳnh ong T tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã ký việc tách thửa sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mảnh đất có diện tích 1216.9m2 trong đó có 50m2 đất đô thị trong tổng diện tích 2.300,6m2 thuộc thửa số 84 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại tổ 9, khu phố C phường H C thị xã B L tỉnh Bình hước.

Bị đơn ông Huỳnh ong T trình bày: Mảnh đất có diện tích 2.300.6m2 thuộc thửa số 84 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại tổ 9 khu phố

phường H thị xã B đã được Ủy ban nhân dân thị xã B L tỉnh Bình hước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất BE 488450 ngày 25/4/2012 đứng tên hộ ông Huỳnh ong T. Nguồn gốc là do ông bà của ông T khai hoang để lại cho bố mẹ ông T, bà Hồ Thị là mẹ ông T quản lý sử dụng đến ngày 28/02/2001 bà P làm đơn xác nhận cho ông T mảnh đất trên có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T B huyện Bh L, tỉnh Bình hước đến năm 2010 ông T đã tiền hành đăng ký nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến tháng 3/2011 Ủy ban nhân dân phường Hưng hiến tổ chứng họp x t hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân trong đó có hộ ông Huỳnh ong T nhưng đến tháng 4/2012 ông T mới được cấp giấy chứng nhận nhưng tháng 11/2011 ông T kết hôn với bà Trần Thị Bích T. Do bị tai nạn nên ông T không có khả năng lao động không có thu nhập đến tháng 12 năm 2015 gia đình khó khăn nên phải mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thế chấp ngân hàng và sau đó bà T bỏ nhà đi biệt tích ông T không có khả năng trả nợ ngân hàng và không có tiền chữa trị và sinh sống nên phải sang nhượng cho bà N 1216.9m2 đất trong đó có 50m2 đất đô thị trong tổng diện tích 2.300,6m2 thuộc thửa số 84 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại tổ 9 khu phố

phường H thị xã B , giá 900.000.000đ ( hín trăm triệu đồng) ông T đã nhận trước 500.000.000 đồng trong đó có số tiền trả nợ thay cho ông T tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh thị xã Bình ong 285.00.000 đồng trả tiền trực tiếp nhiều lần cho ông T 215.000.000 đồng, còn lại số tiền 400.000.000đ (Bốn trăm triệu đồng) bà N đã trả đủ trước ngày x t xử. Ông T đã nhận đủ tiền và bàn giao đất cho bà N nhưng do chưa thực hiện xong thủ tục sang tên giấy chứng nhận cho bà N vì còn vướng thủ tục pháp lý là do sổ ghi cấp cho hộ nên không thực hiện được. Ông T cho rằng tài sản quyền sử dụng đất và tài sản gắn với đất là của ông T được cha mẹ cho riêng từ năm 2001, đến năm 2010 và đầu năm 2011 làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận nhưng đến tháng 4/2012 Nhà nước mới cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước đó vào ngày 10/11/2011 ông T kết hôn với bà Trần Thị Bích T mà trong giầy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Huỳnh ong T lại ghi cấp cho hộ ông Huỳnh ong T, bà T đã mất tích nên không thể thực hiện được. Nay bà N yêu cầu ông thực hiện tách thửa cho bà N thì ông T đồng ý tuy nhiên do cơ quan có thẩm quyền trả lời không thực hiện được vì thiếu bà Trần Thị Bích T hiện nay ông vẫn mong muốn chuyển nhượng đất cho bà N, ông Tcũng không có khả năng trả lại tiền cho bà N từ việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị trình bày: Thống nhất với lời trình bày của ông T, bà P xác định diện tích 2.300,6m2 thuộc thửa số 84 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại tổ 9 khu phố

phường H thị xã B tỉnh Bình hước đứng tên hộ ông Huỳnh ong T có nguồn gốc của gia đình bà vào năm 2001 bà P đã làm đơn cho ông T có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Thanh Bình. Bà P cũng đang sống trên mảnh đất này việc ông T sang nhượng một phần đất cho bà N, bà Pcó biết có nhận tiền thay cho ông T. Bà P đồng ý với yêu cầu của bà N, đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng mảnh đất 1216.9m2 trong đó có 50m2 đất đô thị trong tổng diện tích 2.300,6m2 thuộc thửa số 84 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại tổ 9 khu phố

phường H thị xã B tỉnh Bình hước cho bà N và bà P không tranh chấp gì.

Đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân thị xã Bình ong ông Tô Mạnh H trình bày: Đối với diện tích đất 2.300,6m2 thuộc thửa số 84 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại tổ 9 khu phố

phường H thị xã B tỉnh Bình hước cấp cho hộ ông Huỳnh ong T là đúng đối tượng đúng trình tự thủ tục tuy nhiên trong quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Long T lại ghi cấp cho hộ ông Huỳnh ong T là có sai sót. Đề nghị Tòa án xem x t giải quyết theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa: Thẩm phán Hội đồng x t xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định. Nguyên đơn bà Lê Thu N kh i kiện ông Huỳnh ong T, yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà ê Thị N với ông Huỳnh ong T lập ngày 12/12/2020 các đương sự giao dịch là hoàn toàn tự nguyện, bên sang nhượng đã nhận đủ tiền bên nhận sang nhượng đã nhận đất. Đề nghị Hội đồng x t xử ông nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập giữa bà Lê Thu Nvới ông Huỳnh ong T vào ngày 12/12/2020 có hiệu lực.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong Hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Theo đơn của bà Lê Thu N kh i kiện yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà ê Thị N với ông Huỳnh ong T lập ngày 12/12/2020 mảnh đất có diện tích diện tích 1216.9m2 thuộc thửa số 84 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại tổ 9 khu phố

phường H thị xã B , tỉnh Bình hước được Ủy ban nhân dân thị xã Bình ong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất BE 488450 ngày 25/4/2012 đứng tên hộ ông Huỳnh ong T. Hội đồng x t xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo quy định tại Điều 500 của Bộ luật dân sự năm 2015. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26 điểm a khoản 1 Điều 35 điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Bình ong tỉnh Bình hước.

Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân thị xã Bình Long là ông Tô Mạnh H vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án x t xử vắng mặt bà Trần Thị Bích T vắng mặt, bà Trần Thị Bích T đã mất tích theo Quyết định số 02/2021/QĐST – VDS, ngày 11/5/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Bình ong. Tòa án đã thực hiện việc tống đạt niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho bà Trần Thị Bích T là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà Trần Thị Bích T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do Hội đồng x t xử tiến hành x t xử vắng mặt bà Trần Thị Bích T và ông Tô Mạnh H theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Ngày 12/12/2020 bà Lê Thu N nhận chuyển nhượng của ông Huỳnh ong T phần đất diện tích 1216.9 m2 thuộc thửa số 84 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại tổ 9 khu phố

phường H thị xã B tỉnh Bình hước được Ủy ban nhân dân thị xã Bình ong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất BE 488450 ngày 25/4/2012 đứng tên hộ ông Huỳnh ong T. Giá trị chuyển nhượng là 900.000.000 đồng bà N đã trả tiền cho ông T, cụ thể bà N trả khoản nợ vay của ông T từ năm 2015 tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - hi nhánh thị xã Bình ong 285.00.000 đồng còn 215.000.000 đồng là trả tiền trực tiếp nhiều lần cho ông T, có bà P cùng nhận tiền. Số tiền còn lại 400.000.000 đồng trong thời hạn chuẩn bị x t xử bà N đã trả đủ tiền cho ông T. Bà N đã nhận đất quản lý và sử dụng từ thời điểm nhận chuyển nhượng nhưng đến nay ông T chưa thực hiện tách thửa cho bà N. Nay bà N yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 12/12/2020 giữa bà Lê Thu N với ông Huỳnh ong T. Buộc ông Huỳnh ong T thực hiện tách thửa sang tên cho bà N mảnh đất có diện tích 1216.9m2 trong đó có 50m2 đất đô thị trong tổng diện tích 2.300,6m2 thuộc thửa số 84 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại tổ 9 khu phố

phường H thị xã B tỉnh Bình hước. Ông Huỳnh Long T xác định nội dung bà N trình bày là đúng. Do do gia đình hoàn cảnh khó khăn ông T phải trả khoản nợ vay của Ngân hàng từ năm 2015 và phải trang trải cuộc sống chi phí sinh hoạt của gia đình một mẹ già một con nhỏ và phải chữa bệnh bị tai biến mà bản thân ông T nay không có khả năng lao động không có thu nhập cho nên ngày 12/12/2020 đã sang nhượng cho bà Lê Thu N phần đất có diện tích 1216.9m2 trong đó có 50m2 đất đô thị trong tổng diện tích 2.300,6m2 thuộc thửa số 84 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại tổ 9 khu phố

phường H thị xã B tỉnh Bình hước nói trên cho bà N. Ông T đã nhận đủ tiền và không yêu cầu gì thêm ông Tđề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

t yêu cầu của bà N đề nghị Tòa án giải quyết ông nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị N với ông Huỳnh Long T vào ngày 12/12/2020, diện tích 1216.9m.m2 trong đó có 50m2 đất đô thị trong tổng diện tích 2.300,6m2 thuộc thửa số 84 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại tổ 9 khu phố phường H thị xã B tỉnh Bình hước, có vị trí tứ cận theo sơ đồ đo đạc ngày 12/11/2021 của hi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã Bình ong. Bà N đã nhận đất và trả đủ tiền cho ông T. Ông T và bà ê Thị đồng ý theo yêu cầu của bà N. Hiện nay do hoàn cảnh khó khăn nên không có tiền trả cho bà N việc chưa thực hiện sang tên cho bà N là thủ tục pháp lý. Các bên giao dịch sang nhượng đất là hoàn toàn tự nguyện. Do không có khả năng trả khoản nợ vay của Ngân hàng từ năm 2015, hoàn cảnh của ông T phải nuôi con nhỏ và mẹ già bản thân do bị bệnh không có khả năng lao động. Về nguồn gốc của diện tích 2.300,6m2 thuộc thửa số 84 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại tổ 9 khu phố

phường H thị xã B tỉnh Bình hước là của bố mẹ ông Huỳnh ong T khai hoang từ năm 1976 đến năm 2001 bà P làm đơn xác nhận cho ông T nhưng do đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do vậy bà P làm đơn gửi Ủy ban nhân dân xã Thanh Bình xác nhận (Bút lục 57) cho ông T để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sinh sống đến 2010 ông T làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có biên bản họp x t duyệt của Ủy ban nhân dân phường Hưng hiến ngày 05/3/2011 (BL 59), tại thời điểm xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ ông T chỉ có ông T và bà Hồ Thị , bà P đã ký đơn cho ông T đất nhưng khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh ong T thì Ủy ban nhân dân thị xã Bình ong lại ghi cấp cho hộ ông Huỳnh ong T là sai sót phù hợp với ông văn phúc đáp số 497/UBN – N ngày 05/4/2022 của hủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Bình ong ghi rõ việc cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất cho ông T nhưng ghi cấp cho hộ ông Huỳnh Long T là do sơ suất. Nay ông T sang nhượng một phần đất cho bà N là đủ điều kiện thực hiện. iên quán đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất các bên lập vào ngày 12/12/2020 giữa bà Lê Thu N với ông Huỳnh ong T là có vi phạm về hình thức của hợp đồng nhưng các bên tự nguyện sang nhượng bên sang nhượng đã bàn giao đất và nhận đủ tiền nay đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng và diện tích chuyển nhượng không ảnh hư ng đến đời sống của người chuyển nhượng không ảnh hư ng đến những người liên quan do đó yêu cầu của bà Lê Thu N được Hội đồng x t xử chấp nhận. ông nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thu N với ông Huỳnh ong T lập vào ngày 12/12/2020 có hiệu lực theo quy định tại khoản 2 Điều 129 Bộ luật dân sự. Bà Lê Thu N được toàn quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn với đất theo quy định của pháp luật đối với mảnh đất diện tích 1216.9m2 đất trồng cây lâu năm trong tổng 2.300,6m2 thuộc thửa số 84 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại tổ 9 khu phố

phường H thị xã B tỉnh Bình hước, có vị trí tứ cận theo sơ đồ đo đạc ngày 12/11/2021 của hi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã Bình ong. Bà Lê Thu N được quyền liên hệ với Ủy ban nhân dân thị xã Bình ong, S Tài nguyên và môi trường tỉnh Bình hước ơ quan có thẩm quyền đề làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1216.9m2 đất trồng cây lâu năm trong tổng diện tích 2.300,6m2 thuộc thửa số 84 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại tổ 9 khu phố phường H thị xã B tỉnh Bình hước, có vị trí tứ cận theo sơ đồ đo đạc ngày 12/11/2021 của hi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã Bình ong.

Đối với diện tích 50m2 đất đô thị ghi trong hợp đồng các bên thống nhất không yêu cầu giải quyết.

4]. Bà Trần Thị Bích T vắng mặt tại phiên tòa. Tòa án đã thực hiện tống đạt niêm yết văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho bà Trần Thị Bích T. Bà T đã mất tích theo Quyết định số 02/2021/QĐST - VDS, ngày 11/5/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Bình ong. Trường hợp bà Trần Thị Bích T có tranh chấp tài sản chung với ông T thì Tòa án giải quyết thành vụ án khác.

. hi phí tố tụng: ăn cứ vào các Điều 157 và 165 của Bộ luật tố tụng dân sự bà Lê Thu N chịu 3.000.000đ (Ba triệu đồng) tiền chi phí xem x t thẩm định tại chỗ và định giá tài sản được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp theo phiếu thu ngày 24/12/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Bình ong.

. Về án phí: ăn cứ theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về thu miễn nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Ông T chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

ăn cứ vào các Điều 203 Điều 167 uật đất đai khoản 2 Điều 129, các Điều 117 Điều 119 Điều 120 Điều 500 Điều 501 Điều 502 và Điều 503 Bộ luật dân sự; các Điều 227 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về thu miễn nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, Tuyên xử:

1. ông nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập giữa bà Lê Thu N với ông Huỳnh ong T vào ngày 12/12/2020 có hiệu lực.

2. Bà Lê Thu N được toàn quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn với đất theo quy định của pháp luật đối với mảnh đất có diện tích 1216.9m2, đất trồng cây lâu năm trong tổng diện tích 2.300,6m2 thuộc thửa số 84 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại tổ 9 khu phố

phường H thị xã B tỉnh Bình hước, có vị trí tứ cận theo sơ đồ đo đạc ngày 12/11/2021 của hi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã Bình ong.

3. Bà Lê Thu N được quyền liên hệ với Ủy ban nhân dân thị xã Bình ong S Tài nguyên và môi trường tỉnh Bình hước ơ quan có thẩm quyền đề làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1216.9m2, đất trồng cây lâu năm trong tổng diện tích 2.300,6m2 thuộc thửa số 84 tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại tổ 9 khu phố

phường H thị xã B tỉnh Bình hước, có vị trí tứ cận theo sơ đồ đo đạc ngày 12/11/2021 của hi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã Bình ong.

4. Trường hợp bà Trần Thị Bích T có tranh chấp tài sản chung với ông Huỳnh Long T thì Tòa án giải quyết thành vụ án khác.

5. hi phí tố tụng: ăn cứ vào các Điều 157 và 165 của Bộ luật tố tụng dân sự bà Lê Thu N chịu 3.000.000đ (Ba triệu đồng) tiền chi phí xem x t thẩm định tại chỗ và định giá tài sản được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp theo phiếu thu ngày 24/12/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Bình ong.

6. Về án phí: ăn cứ theo Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về thu miễn nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Ông Huỳnh ong T chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Lê Thu N 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001885 ngày 24/9/2021 của hi ục Thi hành án dân sự thị xã Bình ong,

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ này bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ