- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Đức Sinh phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI * * * Bản án số: 04/2021/HSST Ngày 26 tháng 01 năm 2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hòa.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Hoàng Văn Đông - Ủy viên thường vụ huyện Đoàn Định Quán,
2/ Bà Nguyễn Thị Liệu – Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Kim Lân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Tới - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 01 năm 2021, Tòa án nhân dân huyện Định Quán đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 186/2020/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2021/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lương Đức S – Sinh năm 1991 tại Đắk Lắk.
Nơi cư trú: tổ dân phố M, thị trấn E, huyện H, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lương Đức P – Sinh năm 1959 và bà Trần Thị H – Sinh năm 1960; Vợ là Nguyễn Thị D – Sinh năm 1997 và 02 con (lớn S năm 2016, nhỏ S năm 2017); Tiền án, Tiền sự: không;
* Về nhân thân: Tại Bản án số 21/2010/HSST ngày 08/3/2010 của Tòa án nhân dân huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk, xử phạt Lương Đức S 07 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành xong bản án ngày 23/01/2015 (BL 98).
Bị cáo được khởi tố tại ngoại đến nay “có mặt”.
- Bị hại:
1/ Cháu Hoàng Thị M - Sinh ngày 08/3/2004 (đã chết),
Người đại diện hợp pháp của cháu M: Anh Hoàng Ngọc Tuấn – Sinh năm 1997,
Trú tại: Số 105 tổ 1, ấp 1, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
2/ Cháu Phạm Thu T - Sinh ngày 24/12/2004,
Người đại diện hợp pháp của cháu T: Bà Lê Thị Thu B – Sinh năm 1966
Trú tại: Ấp B, xã P, huyện D, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
3/ Ông Nguyễn Văn X – Sinh năm 1967,
Trú tại: Tổ H, khu S, thị trấn T, huyện P, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Bị đơn dân sự: Công ty cổ phần vận tải Phát Thành Phát
Người đại diện của bị đơn dân sự: Anh Nguyễn Hữu Đ – Sinh năm 1986 (Theo văn bản ủy quyền ngày 19/5/2020).
Trú tại: Xóm T, xã M, huyện S, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lương Đức S có Giấy phép lái xe hạng C số 660162002047 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 06/4/2020, có giá trị sử dụng đến ngày 06/4/2025.
Vào khoảng 17 giờ ngày 09/5/2020, Lương Đức S điều khiển xe ô tô tải biển số 61C - 069.64 (trên xe không chở hàng hóa) của Công ty cổ phần vận tải Phát Thành Phát, lưu thông ở làn đường cơ giới trên Quốc lộ 20 theo hướng Tân Phú đi Thống Nhất. Cùng lúc này, cháu Phạm Thu T điều khiển xe gắn máy biển số 60FT – 0266, chở theo cháu Hoàng Thị M ngồi phía sau, lưu thông cùng chiều phía trước bên làn đường xe thô sơ.
Khi đến Km 35+700m, thuộc ấp 1, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, S điều khiển xe ô tô biển số 61C - 069.64 vượt lên nhưng lại đánh tay lái về bên phải để tránh một xe ô tô khác lưu thông ngược chiều nên cạnh vè chắn bùn phía sau bánh trước bên phải đã va chạm vào đầu nắm tay lái bên trái xe gắn máy do em T điều khiển làm xe máy 60FT - 0266 bị ngã trượt về phía trước và va chạm với xe gắn máy biển số 60AA - 034.95 do ông Nguyễn Văn X điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước, gây tai nạn giao thông; hậu quả:
- Cháu T, cháu M và ông X cùng xe gắn máy biển số 60FT – 0266 và xe gắn máy biển số 60AA - 034.95 ngã xuống đường. Cháu T và ông X bị thương nhẹ; cháu Hoàng Thị M bị thương nặng được Lương Đức S đưa đi cấp cứu nhưng đến 22 giờ cùng thì cháu M chết tại Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất.
- Xe ô tô biển số 61C - 069.64, xe gắn máy biển số 60FT – 0266 và xe gắn máy biển số 60AA - 034.95 bị hư hỏng nhẹ.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường vụ tai nạn là đoạn đường thẳng, mặt đường bê tông nhựa, đường 2 chiều, mỗi chiều rộng 5m50. Chọn mép đường bên phải hướng Tân Phú - Thống Nhất làm chuẩn, cụ thể:
1. Xe ô tô 61C - 069.64 dừng trên mặt đường, đầu xe hướng Thống Nhất, trục bánh xe trước và trục bánh xe sau cùng bên phải cách mép đường chuẩn là 0m30 và 0m20.
2. Xe gắn máy biển số 60FT - 0266 ngã sang bên trái, thân xe nằm trên mặt đường, đầu xe hướng Thống Nhất, trục bánh trước và trục bánh sau cách mép đường chuẩn là 0m60 và 0m80. Xe 60FT - 0266 để lại vết cày đứt quãng trên mặt đường dài 8m50, điểm đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 1m50, điểm cuối vết cày tiếp giáp thân xe.
3. Xe gắn máy biển số 60AA - 034.95 ngã sang bên trái, thân xe nằm trên mặt đường, đầu xe hướng Tân Phú, trục bánh trước và trục bánh sau cách mép đường chuẩn là 1m90 và 1m10.
* Kết quả khám nghiệm phương tiện:
1. Xe ô tô 61C - 069.64: Cạnh vè chắn bùn phía sau của bánh xe trước bên phải bị bể vỡ.
2. Xe gắn máy 60FT - 0266: Gương chiếu hậu bên trái gãy rụng; Đèn tín hiệu phía trước bên trái bể vỡ; Đầu nắm tay lái bên trái không có ốp chụp kim loại, đầu tay nắm bị bào mòn cao su, kim loại; Cần gác chân trước bên trái bị xô lệch về sau, đầu cần gác chân bị bào mòn kim loại; Đèn tín hiệu phía sau bên trái bể vỡ.
3. Xe gắn máy 60AA - 034.95: Cần vào số phía sau bị xô lệch vào trong; Ốp sườn xe bên trái vị trí phía trên phuộc giảm sốc phía sau có dấu vết hằn lốp xe.
* Hậu quả:
1. Căn cứ bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 121/TT/2020 ngày 01/6/2020, của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai, kết luận nguyên nhân chết của cháu Hoàng Thị M là do: Chấn thương sọ não gây vỡ sọ thái dương trái, chảy máu nội sọ (Bút lục số 46, 47).
2. Cháu Phạm Thu T và ông Nguyễn Văn X bị thương nhẹ và từ chối giám định thương tích (Bút lục số 114, 115, 124, 125).
3. Căn cứ bản Kết luận giám định số 26/TTĐKXCG ngày 27/5/2020 của Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới Định Quán, kết luận:
- Tình trạng kỹ thuật xe 61C - 069.64: Ngoại trừ đèn lùi bên phải không hoạt động. Các hệ thống phanh, hệ thống lái, hệ thống đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu, lốp xe bình thường.
- Tốc độ của xe ô tô 61C - 069.64 và 02 xe gắn máy 60FT - 0266; 60AA - 034.95 không có cơ sở để xác định (Bút lục số 62, 63).
Tại bản cáo trạng số 138/CT-VKSĐQ ngày 30/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo Lương Đức S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, việc tranh tụng, đối đáp diễn ra như sau:
1/ Kiểm sát viên giữ nguyên cáo trạng và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Lương Đức S mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
2/ Bị cáo Lương Đức S nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Định Quán, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lương Đức S và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Anh Hoàng Ngọc Tuấn, bà Lê Thị Thu Ba, ông Nguyễn Văn X, anh Nguyễn Hữu Định đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, việc vắng mặt của đại diện bị hại và đại diện bị đơn dân sự không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án; đồng thời, Kiểm sát viên, bị cáo không yêu cầu hoãn phiên tòa. Căn cứ Điều 292, 305 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị hại, đương sự.
[2] Căn cứ để kết tội đối với bị cáo:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lương Đức S đã khai nhận tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, kết luận giám định pháp y và các chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án nên hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 17 giờ ngày 09/5/2020, tại Km 35+700m, thuộc ấp 1, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, Lương Đức S điều khiển xe ô tô tải biển số 61C - 069.64 lưu thông theo hướng Tân Phú đi Thống Nhất, do vượt xe không đúng quy định nên xe ô tô do S điều khiển đã đụng vào xe gắn máy biển số 60FT – 0266, do cháu Phạm Thu T điều khiển chở theo cháu Hoàng Thị M, lưu thông cùng chiều phía trước, gây tai nạn giao thông. Hậu quả, làm cháu Hoàng Thị M chết tại Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất vào lúc 22 giờ ngày 09/5/2020.
Hành vi do bị cáo Lương Đức S thực hiện đã vi phạm điều cấm của luật giao thông đường bộ vì theo khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ có quy định “Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải”. Hậu quả của hành vi vi phạm luật giao thông đã dẫn đến cái chết của cháu Hoàng Thị M nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự; Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố bị cáo Lương Đức S là đúng người, đúng tội.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Xét thấy: Tình hình tai nạn giao thông hiện nay đang có chiều hướng gia tăng, gây thiệt hại lớn về tài sản và tính mạng của con người, trong vụ án này, hành vi vi phạm quy tắc an toàn giao thông đường bộ của bị cáo Lương Đức S đã gây ra cái chết của cháu Hoàng Thị M - gây mất mát, đau thương cho gia đình người bị hại, không gì có thể bù đắp được; không những vậy, hành vi của bị cáo còn gây thương tích cho cháu Phạm Thu T, ông Nguyễn Văn X. Do đó cần phải có một mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi của bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức chấp hành đúng các quy tắc giao thông và răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Xét về lỗi trong vụ án này thì bị cáo Lương Đức S là người điều khiển xe ô tô vượt xe khác không đúng luật giao thông; tai nạn xảy ra hoàn toàn nằm trên phần đường dành cho xe thô sơ - là phần đường lưu thông của phía các bị hại, nên bị cáo là người có lỗi hoàn toàn.
Cháu Phạm Thu T điều khiển xe máy biển số 60FT – 0266 có dung tích xi lanh 49cm3 cho nhưng lúc này cháu T chưa đủ 16 tuổi là chưa đủ điều kiện điều khiển xe gắn máy có dung tích xi lanh dưới 50cm3 – vi phạm Điều 60 Luật giao thông đường bộ. Tuy nhiên, cháu T điều khiển xe đúng làn đường dùng cho xe thô sơ, xe máy nên cháu T không có lỗi trong vụ tai nạn.
[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Lương Đức S thì thấy rằng:
Mặc dù bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu vì từng bị Tòa án nhân dân huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk xử phạt Lương Đức S 07 năm tù về tội “Cướp tài sản” vào năm 2010. Lẽ ra, sau khi được cải tạo, giáo dục thì bị cáo phải nỗ lực tu dưỡng bản thân, đề cao ý thức chấp hành pháp luật; nhưng ngược lại, bị cáo tiếp tục vi phạm pháp luật dẫn đến hậu quả chết người nên Tòa án cần nghiêm trị hành vi này của bị cáo.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện rõ sự ăn năn hối cải; sau tai nạn bị cáo phối hợp cùng Công ty cổ phần Vận tải Phát Thành Phát đã khắc phục toàn bộ thiệt hại về mặt vật chất cho bị hại nên được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn; cha bị cáo là ông Lương Đức Phong từng tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế; bị cáo sau khi gây tai nạn đã tích cực đưa bị hại đi cứu chữa; bị cáo được đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên Tòa án xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về biện pháp tư pháp:
[5.1] Về trách nhiệm dân sự:
Công ty Cổ phần vận tải Phát Thành Phát và Lương Đức S đã tự nguyện bồi thường cho gia đình cháu Hoàng Thị M số tiền 200.000.000đ, bồi thường cho cháu Phạm Thu T số tiền 6.000.000đ. Đại diện gia đình các bị hại không yêu cầu gì thêm nên Tòa án không xem xét.
Ông Nguyễn Văn X không bị thương tích, không bị thiệt hại và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên Tòa án không xem xét.
[5.2] Về vật chứng:
- Xe ô tô biển số 61C – 069.64 do Công ty cổ phần vận tải Phát Thành Phát làm chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
- Xe gắn máy biển số 60FT - 0266, hiệu “Fervop” thuộc sở hữu của bà Lê Thị Thu Ba (là mẹ ruột cháu Phạm Thu T) nên cơ quan điều tra trao trả cho bà Lê Thị Thu Ba là phù hợp,
- 01 xe gắn máy biển số 60AA – 034.95 của ông Nguyễn Văn X. Cơ quan điều tra đã trao trả cho ông Nguyễn Văn X là phù hợp.
- Giấy phép lái xe hạng C số 660162002047 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 06/4/2020 sẽ được trả lại cho bị cáo S khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bà Lê Thị Thu Ba đã giao xe máy biển số 60FT – 0266 cho cháu Phạm Thu T nhưng cháu T chỉ mới 15 tuổi 04 tháng 15 ngày là chưa đủ điều kiện điều khiển xe gắn máy. Cơ quan CSĐT xử phạt hành chính về hành vi giao xe của bà Thu Ba là đúng pháp luật.
[6] Về quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Là phù hợp với pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Đức S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lương Đức S 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
3. Về vật chứng: Trả Giấy phép lái xe hạng C số 660162002047 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 06/4/2020 cho bị cáo Lương Đức S khi bản án có hiệu lực pháp luật.
4. Về án phí: Bị cáo Lương Đức S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm;
Bị cáo Lương Đức S có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án; Anh Hoàng Ngọc Tuấn, bà Lê Thị Thu Ba, ông Nguyễn Văn X, Công ty cổ phần vận tải Phát Thành Phát có quyền kháng cáo trong hạn 15 tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Đồng Nai.
- Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai.
- VKSND huyện Định Quán.
- Công an huyện Định Quán.
- Chi cục THA huyện Định Quán.
- Bị cáo, bị hại; đương sự
- Lưu hồ sơ, VP.
Lê Xuân Hòa