vanban.org

Bản án 04/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Đồ Sơn, TP. Hải Phòng Tuyên án 31/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Vật chứng này được thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02 tháng 02 năm 2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hải Phòng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. TAND TP Hải Phòng; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Vật chứng này được thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02 tháng 02 năm 2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hải Phòng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN ĐỒ SƠN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2021/HS-ST
Ngày 31-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồngồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Trọng Đạt

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Thế Sự

Bà Hoàng Thị Yến

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Văn Hoàng - Thư ký Toà án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Bùi Việt Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2021, đối với bị cáo:

Lưu Văn Đ, sinh ngày 25 tháng 5 năm 1997 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn Đ và bà Phùng Thị H; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 04-9-2020, đến ngày 12-9-2020 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người làm chứng: Ông Lưu Văn Th, vắng mặt;

- Người chứng kiến: Ông Đinh Xuân T, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 11 giờ 00 phút, ngày 04-9-2020, bị cáo Lưu Văn Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER, màu đen đỏ, biển kiểm soát 15B1-287.92 từ nhà ở tổ dân phố N, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng đến nhà của Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1997, ở ngõ 29 thuộc tổ dân phố C, phường H, quận Đ để mua ma túy sử dụng cho bản thân. Trên đường đi, bị cáo gọi cho Tuấn A hỏi mua Heroine với số tiền 200.000 Đ. Tuấn A Đ ý và hẹn bị cáo khi đến nhà thì đưa tiền qua ô thoáng trên tường nhà, giáp đường đi, Tuấn A sẽ đưa ma túy ra cho bị cáo. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, đến nhà Tuấn A, bị cáo đưa 200.000 Đ qua ô thoáng vào trong nhà, Tuấn A đưa lại qua ô thoáng ra ngoài cho bị cáo 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong có chất bột màu trắng. Bị cáo cầm đoạn ống hút nhựa trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về thì bị Công an phường Hải Sơn kết hợp với Công an quận Đồ Sơn phát hiện, bắt quả tang, thu giữ ở lòng bàn tay trái của bị cáo 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, kích thước 0,7cm x 03cm, hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất bột màu trắng. Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu mobell màu vàng Đ, đã qua sử dụng và chiếc xe mô tô mà bị cáo điều khiển. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo, Cơ quan Điều tra không thu giữ được gì liên quan đến vụ án.

Tại Kết luận giám định số 580/KLGĐ-MT ngày 07-9-2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột thu giữ của bị cáo Đ gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,21 gam, là loại Heroine.

Khám xét chỗ ở của Tuấn A, Cơ quan Điều tra thu giữ: 01 túi nilon bên trong có 08 túi nilon chứa tinh thể rắn màu trắng (qua giám định xác định là ma túy, khối lượng 2,91 gam, là loại Methamphetamine); 07 ống hút nhựa chứa chất bột màu trắng (qua giám định xác định là ma túy, khối lượng 0,70 gam, là loại Heroine); 01 tờ tiền polime mệnh giá 200.000 Đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone. Tuấn A thừa nhận đã bán ma túy cho bị cáo Đ. Tuấn A khai số ma túy này là bán thuê cho Nguyễn Thế M, sinh năm 1982, nơi ở: tổ dân phố Độc Lập, phường Hải Sơn, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

Khám xét chỗ ở của M, Cơ quan Điều tra thu giữ nhiều đồ vật, trong đó có: 01 điện thoại di động 02 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, 01 hộp giấy bên trong có 02 túi nilon chứa chất bột màu trắng dạng cục (qua giám định xác định là ma túy, khối lượng 74,73 gam, là loại Heroine).

Hồ sơ vụ án tàng trữ trái phép chất mà túy và mua bán trái phép chất ma túy đối với bị cáo Đ, Tuấn A và M, cùng toàn bộ vật chứng kèm theo được chuyển lên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hải Phòng để điều tra theo thẩm quyền. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER, màu đen đỏ, biển kiểm soát 15B1-287.92 thu giữ của bị cáo thuộc sở hữu hợp pháp của ông Lưu Văn Th, sinh năm 1970, nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng. Ông Th cho bị cáo mượn để chở hàng thuê cho gia đình ông. Ông Th không biết bị cáo dùng xe để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hải Phòng đã trả lại chiếc xe này cho ông Th. Ông Th không yêu cầu bị cáo phải bồi thường hay thực hiện nghĩa vụ dân sự khác liên quan đến chiếc xe này.

Do đang mở rộng điều tra đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Tuấn A và M, ngày 29-01-2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hải Phòng đã ra Quyết định số 02/CSMT tách vụ án hình sự để điều tra về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy đối với bị cáo Đ, theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Ngày 01-02-2021, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng có Quyết định số 30/QĐ-VKS chuyển vật chứng là 01 điện thoại di động nhãn hiệu mobell màu vàng Đ thu được của bị cáo Đ đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn để đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án. Chất ma túy sau giám định thu được của bị cáo Đ và số tiền 200.000 Đ thu của Tuấn A được giữ lại để phục vụ việc điều tra và xử lý sau. Ngày 05-02-2021, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng có Quyết định số 03/QĐ-VKS chuyển vụ án hình sự để Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn truy tố đối với bị cáo Đ.

Cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 22-02-2021 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến về nội dung Cáo trạng; thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép 0,21 gam Heroine ở lòng bàn tay trái của bị cáo, bị Công an phường Hải Sơn kết hợp với Công an quận Đồ Sơn bắt quả tang và thu giữ cùng vật chứng là 01 điện thoại di động nhãn hiệu mobell màu vàng Đ, đã qua sử dụng và chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER, màu đen đỏ, biển kiểm soát 15B1-287.92 vào khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 04-9-2020 tại ngõ 29 thuộc tổ dân phố Cộng Hòa, phường Hải Sơn, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng đúng như Cáo trạng đã nêu; xác nhận việc điều tra, truy tố đối với bị cáo là không oan sai; trong quá trình điều tra, không bị ép buộc khai báo không đúng sự thật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội:

Về tội danh và hình phạt: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép 0,21 gam Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do đó, Viện Kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nhân thân bị cáo không có tiền án, tiền sự. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đ từ 15 đến 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự vì bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng;

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu mobell màu vàng Đ, đã qua sử dụng thu được của bị cáo.

Về vấn đề khác: Đối với ông Lưu Văn Th, do không biết bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô mà ông cho mượn để đi mua ma túy nên đề nghị không xem xét, xử lý. Chất ma tuý sau giám định thu của bị cáo và số tiền 200.000 Đ bị cáo mua ma túy được Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hải Phòng giữ lại để phục vụ công tác điều tra, xét xử vụ án mua bán trái phép chất ma túy đối với Minh và Tuấn A nên không đề nghị xem xét, xử lý những vật chứng này.

Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 Đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện Kiểm sát; nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lưu Văn Đ không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và khung hình phạt:

Lời khai của bị cáo Đ trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định: Vào khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 04-9-2020, tại khu vực ngõ 29 thuộc tổ dân phố Cộng Hòa, phường Hải Sơn, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, bị cáo Đ có hành vi tàng trữ trái phép 0,21 gam Heroine trong lòng bàn tay trái, bị Công an phường Hải Sơn kết hợp với Công an quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng bắt quả tang, thu giữ cùng 01 điện thoại di động nhãn hiệu mobell màu vàng Đ, đã qua sử dụng trên người bị cáo và chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER, màu đen đỏ, biển kiểm soát 15B1-287.92 mà bị cáo điều khiển.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Mục đích bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là để sử dụng cho bản thân.

Vì vậy, hành vi của bị cáo Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c. Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam;”

Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Đ về tội danh, khung hình phạt và điều luật là có cơ sở và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh, trật tự tại địa phương. Tội phạm ma túy nói chung là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác. Do vậy, cần xử lý nghiêm đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án và tiền sự, chưa bị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật.

Về hình phạt chính: Trên cơ sở xem xét toàn diện về mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo như đã nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy chỉ cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn ở mức thấp của khung hình phạt cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo mà vẫn đảm bảo hiệu quả của công tác đấu tranh đối với tội phạm ma túy trên địa bàn quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng nói chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản riêng, không có nguồn thu nhập khác nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng:

Chất ma tuý sau giám định thu của bị cáo và số tiền 200.000 Đ bị cáo mua ma túy (thu được của Nguyễn Tuấn A) cũng là vật chứng trong vụ án Tuấn A và Nguyễn Thế M mua bán trái phép chất ma túy đang trong quá trình điều tra. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hải Phòng giữ lại vật chứng này để xử lý sau là có căn cứ.

01 điện thoại di động nhãn hiệu mobell màu vàng Đ, đã qua sử dụng thu được của bị cáo là phương tiện bị cáo dùng liên lạc để mua ma túy nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER, màu đen đỏ, biển kiểm soát 15B1-287.92 thu giữ của bị cáo thuộc sở hữu hợp pháp của ông Lưu Văn Th. Ông Th cho bị cáo mượn để chở hàng thuê và không biết bị cáo dùng xe để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe này cho ông Th là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Th không yêu cầu bị cáo phải bồi thường hay thực hiện trách nhiệm dân sự liên quan đến chiếc xe mô tô nêu trên nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về vấn đề khác:

Tuấn A là người bán ma túy cho bị cáo. Tuấn A khai bán ma túy hộ Minh. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Tuấn A và Minh đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hải Phòng tách ra để tiếp tục điều tra theo thẩm quyền là đúng theo quy định của pháp luật.

Ông Th không biết bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô ông cho mượn để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không lập hồ sơ xử lý đối với ông Th là có cơ sở.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lưu Văn Đ 18 (Mười tám) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 04 tháng 9 năm 2020.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu mobell màu vàng Đ, đã qua sử dụng thu được của bị cáo Đ.

Vật chứng này được thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02 tháng 02 năm 2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hải Phòng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc bị cáo Đ phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) Đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ