vanban.org

Bản án 04/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 07/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Căn cứ vào điểm g, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56

và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Lê Thị Mỹ H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ vào điểm g, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2021/HS-ST
Ngày: 07/01/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Bình Thiện.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Võ Thị Tuyết.

- Bà Bùi Diệu Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Vân – Thư ký Tòa án nhân dân quận

Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Lộc - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành

phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 296/2020/TLST-HS, ngày 03 tháng 11 năm 2020, đối với bị cáo:

Lê Thị Mỹ H (tên gọi khác: Hói); Sinh năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 000 Bình Tiên, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: phòng 311 chung cư D 1002X, Phường E, Quận F, Thành phố H; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn H và bà Lê Thị T; Hoàn cảnh gia đình: Bị cáo có 05 người con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2019.

Tiền án: Ngày 17/8/2017, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phúc

thẩm xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo H được tạm hoãn thi hành án do đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, sau đó bỏ trốn và bị Cơ quan thi hành án hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định truy nã ngày 29/5/2020.

Tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt ngày 02/7/2020; (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 02/7/2020, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma

túy Công an quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Công an phường

1/6

Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tuần tra đến trước nhà số 330/35 Chiến Lược, phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Lê Thị Mỹ H đang điều khiển xe mô tô biển số 59K2-495.64 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiềm tra, phát hiện và thu giữ trong cốp xe mô tô biển số 59K2-495.64 có 01 hộp giấy bên ngoài ghi chữ JOBON bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu. Hảo khai nhận là ma túy nên lực lượng chức năng đưa người và vật chứng về trụ sở Công an phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Sau đó, Công an phường chuyển hồ sơ cùng đối tượng, vật chứng đến Cơ quan

Cảnh sát điều tra Công an quận B để điều tra theo thẩm quyền.

Tại bản kết luận giám định số 1142/KLGĐ-H ngày 08/7/2020 của Phòng Kỹ

thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Lê Thị Mỹ H, Điều tra viên, người chứng kiến và hình dấu Công an phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân bên trong có tinh thể không màu chứa trong 01 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 7,4582g (bảy phẩy bốn năm tám hai gam), loại Methamphetamine

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân, Lê Thị Mỹ H khai nhận:

Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 09 giờ ngày 02/7/2020, H liên hệ và mua số ma túy trên của một người thanh niên tên “Paris” (không rõ lai lịch) tại trước chung cư Starlight đường Nguyễn Văn Luông, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 3.000.000 đồng rồi bỏ ma túy vào trong cốp xe mô tộ biển số 59K2-495.64, sau đó H điều khiển xe đi tìm chỗ để sử dụng ma túy. Khi đi đến trước nhà số 330/35 Chiến Lược, phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Công an kiểm tra phát hiện, thu giữ số ma túy trên. Mục đích H mua số ma túy trên là sử dụng cho bản thân.

Tại bản Cáo trạng số 274/CT-VKS ngày 2710/2020 của Viện kiểm sát nhân

dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lê Thị Mỹ H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi đã thực hiện như nội dung Cáo trạng

nêu trên và xin giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên – Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân phát biểu

quan điểm về việc giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng quy định tại điểm g, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51;

Điều 38; Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 tuyên bị cáo Lê Thị Mỹ H phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị phạt bị cáo Lê Thị Mỹ H hình phạt tù giam có thời hạn từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm 06 tháng tù và tổng hợp hình phạt 09 năm tù của bản án phúc thẩm hình sự số 415/2017/HSPT ngày 17/8/2017 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Về hình phạt bổ sung, các biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt

hại, Đại diện Viện kiểm sát không đề nghị xem xét.

2/6

- Về xử lý vật chứng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đề nghị

Hội đồng xét xử:

Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước:

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia có số thuê bao 0901.382.830 nhưng tiếp tục

tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tịch thu tiêu hủy:

- Gói niêm phong, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu. Bên ngoài

có các chữ ký ghi tên Lê Thị Mỹ H, Nguyễn Ngọc Tuấn (Điều tra viên), Huỳnh Văn Xuyên (người chứng kiến) và hình dấu Công an phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 7.4582g; loại Methamphetamine.

- 01 hộp giấy chử JOBON.

Bị cáo H không tranh luận với quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện

kiểm sát quận B và nói lời sau cùng có nội dung đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, tội danh và tính hợp pháp của các quyết định tố tụng:

Lời khai nhận của bị cáo Lê Thị Mỹ H là khách quan, phù hợp với Biên bản

bắt người phạm tội quả tang ngày 02/7/2020 do Công an phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân lập ngày 02/7/2020, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong vụ án nên có đủ cơ sở kết luận vào lúc 09 giờ 45 phút ngày 02/7/2020; tại trước nhà số 330/35 Chiến Lược, phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh bị cáo Lê Thị Mỹ H có hành vi tàng trữ 01 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 7,4582g; loại Methamphetamine để trong 01 hộp giấy bên ngoài ghi chữ JOBON ở trong cốp xe mô tô biển số 59K2-495.64.

Theo kết luận giám định số 1142/KLGĐ-H ngày 08/7/2020 của Phòng Kỹ

thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Gói niêm phong, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu. Bên ngoài có các chữ ký ghi tên Lê Thị Mỹ H, Nguyễn Ngọc Tuấn (Điều tra viên), Huỳnh Văn Xuyên (người chứng kiến) và hình dấu Công an phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 7.4582g; loại Methamphetamine.

Bị cáo khai nhận tàng trữ số ma túy trên nhằm mục đích để sử dụng.

Do đó, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo H đã phạm tội "Tàng trữ trái

phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Bình Tân đối với bị cáo về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân

3/6

truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục luật định và ý kiến phát biểu tại phiên tòa của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đánh giá nội dung vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt: Hành vi của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm Luật

phòng chống ma túy, ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội, đồng thời hành vi tàng trữ nhằm sử dụng trái phép chất ma túy còn là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với mức độ, tính chất hành vi phạm tội của bị cáo nhằm trừng trị, răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân về việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối

với bị cáo: Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý; bị cáo bỏ trốn và phạm tội trong thời gian được hoãn chấp hành án vì nuôi con đang còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Đây là tình tiết cần xem xét khi lượng hình.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo H có thái độ thành

khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã thực hiện nên xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo phạm tội nhưng không thu lợi bất chính, đồng

thời có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- 01 xe mô tô biển số 59K2-495.64. Qua xác minh do chị Thị Mỹ Hồng (em

ruột bị cáo H) đứng tên chủ sở hữu. Chị Hồng khai đã cho bị cáo H mượn chiếc xe trên hơn nửa tháng nay để đi lại. Việc bị cáo H sử dụng chiếc xe trên để đi mua và tàng trữ ma túy thì chị Hồng không biết vì vậy Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị Hồng là có căn cứ nên ghi nhận.

Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước:

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia có số thuê bao 0901.382.830 nhưng tiếp tục

tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tịch thu tiêu hủy:

- Gói niêm phong, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu. Bên ngoài

có các chữ ký ghi tên Lê Thị Mỹ H, Nguyễn Ngọc Tuấn (Điều tra viên), Huỳnh Văn Xuyên (người chứng kiến) và hình dấu Công an phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 7.4582g; loại Methamphetamine.

- 01 hộp giấy chử JOBON.

4/6

Bị cáo không tranh luận với quan điểm giải quyết vụ án của của đại diện

Viện kiểm sát quận Bình Tân và nói lời sau cùng có nội dung đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, không có yêu cầu bồi thường thiệt hại

nào được đề nghị xem xét trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hành vi của đối tượng là người thanh niên tên “Paris” (không rõ lai

lịch) đã bán ma túy cho bị cáo H đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Bình Tân tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào phát hiện, truy tìm được thì xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Lê Thị Mỹ H phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo

quy định của Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1/ Căn cứ vào điểm g, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56

và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Lê Thị Mỹ H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Lê Thị Mỹ H 07 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 09 năm

tù của bản án phúc thẩm hình sự số 415/2017/HSPT ngày 17/8/2017 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Buộc bị cáo H chấp hành một hình phạt chung là 16 năm 06 tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/7/2020 (nhưng trừ đi thời gian

bị cáo H bị tạm giữ từ ngày 16/01/2017 đến ngày 19/01/2017).

2/ Căn cứ vào các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm

2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước:

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia có số thuê bao 0901.382.830 nhưng tiếp tục

tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tịch thu tiêu hủy:

- Gói niêm phong, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu. Bên ngoài

có các chữ ký ghi tên Lê Thị Mỹ H, Nguyễn Ngọc Tuấn (Điều tra viên), Huỳnh Văn Xuyên (người chứng kiến) và hình dấu Công an phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 7.4582g; loại Methamphetamine.

- 01 hộp giấy chử JOBON.

5/6

(Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đang

tạm giữ các vật chứng trên theo Phiếu nhập kho vật chứng số NK21/005TAM ngày 06/10/2020).

3/ Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Thị Mỹ H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự

sơ thẩm.

4/ Kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Bình Tân tiếp tục điều

tra làm rõ người thanh niên tên “Paris” (không rõ lai lịch) đã bán ma túy cho bị cáo H, khi nào phát hiện, truy tìm được thì xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.

5/ Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên

án.

Cỡ chữ