- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Bị cáo Lò Văn P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN G | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN B Bản án số: 04/2021/HS-ST Ngày: 25 - 10- 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN G, TỈNH ĐIỆN B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Đình H
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Phạm Hữu Ch
2. Ông: Nguyễn Duy L
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Phương Th - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tuần G, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện VKSND huyện Tuần G, tỉnh Điện B tham gia phiên toà: Ông Lường Văn D - Kiểm sát viên.
Ngày 25/10/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T G, tỉnh Đ B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2021/TLST-HS ngày 04/10/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2021/QĐXXST-HS ngày 12/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tuần G đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Lò Văn P; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh ngày 02/8/1968 tại huyện Tuần G, tỉnh Điện B; Nơi cư trú: Bản C , xã Mùn Ch, huyện Tuần G, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: Lớp 6; con ông: Lò Văn L (Đã chết); con bà: Lò Thị B (Đã chết); Vợ: Lò Thị Th - SN 1967 và có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 1987, con nhỏ nhất sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xét xử, chưa bị xử lý vi phạm hành chính; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/9/2021 đến ngày xét xử, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lò Thị Th - SN 1967
Trú tại: Bản Co T, xã M Ch, huyện Tuần G, tỉnh Điện B, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 28/6/2021, Lò Văn P đi xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại xe TAURIUS, biển kiểm soát 27Z1- 06935 từ nhà ở bản Co E, xã Mùn Ch, huyện Tuần G ra thị trấn Tuần G để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đi đến đèo H thuộc khu vực bản C, xã Quài N thì P gặp một người đàn ông không quen biết đang đứng ven đường trông giống người nghiện. Qua trao đổi Pó đã mua của người đàn ông đó 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu xanh với giá 350.000 đồng. Sau khi mua được Heroine P cất giấu vào trong túi áo rồi điều khiển xe đi về đến khu vực khu vực bản Bó G, xã Quài N, huyện Tuần G thì dừng xe lại, đi vào bụi cây ven đường rồi dùng tay bẻ cục Heroine vừa mua thành 11 phần rồi dùng các mảnh nilon màu xanh gói lại thành 11 gói. Sau khi gói xong, P cầm số Heroine trên rồi điều khiển xe máy đi về nhà, trên đường đi đến khi vực bản Bó G, xã Quài N, huyện Tuần G thì bị tổ công tác Công an huyện Tuần G phát hiện bắt quả tang thu giữ 11 gói nghi Heroine và 01 xe máy.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng hồi 13 giờ 40 phút ngày 28/6/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần G đã xác định: Mẫu chất bột màu trắng nghi Heroine thu giữ của Lò Văn P có khối lượng 0,64 gam, trích mẫu gửi giám định 0,08 gam, còn lại 0,56 gam.
Tại Bản kết luận giám định số: 766/GĐ-PC09 ngày 06/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện B đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định thu giữ của Lò Văn P là Heroine. Không hoàn lại mẫu sau khi giám định.
Tại phiên tòa, bị cáo cũng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố: Do bản thân nghiện ma túy nên bị cáo đã có hành vi mua Heroine về để sử dụng. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã thành khẩn thật thà khai báo.
Lời khai của bà Lò Thị Th: Chiếc xe máy bị cáo dùng để đi mua ma túy là tài sản chung của bị cáo với chị Lò Thị Th, xe được mua năm 2013 từ tiền bán gà lợn của gia đình. Chị Th không biết bị cáo dùng xe vào việc mua ma túy, chị đề nghị HĐXX xem xét trả lại giá trị chiếc xe theo quy định của pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số: 90/CT-VKSTG ngày 04/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần G đã truy tố bị cáo về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần G luận tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn P từ 01 năm 06 tháng đến 2 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số 0,56 gam ma túy là vật chứng còn lại của vụ án. Tịch thu sung quỹ nhà nước ½ giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại xe TAURIUS, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 27Z1-069.35, số khung RLCS16S40CY028896, số máy 26SB-040246, xe cũ đã qua sử dụng là phương tiện phạm tội của bị cáo. Trả lại cho Lò Thị Th là vợ bị cáo ½ giá trị chiếc xe máy trên. Trả lại cho bị cáo 01 giấy CMTND mang tên Lò Văn P.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tự bào chữa cho hành vi của mình, nhất trí với nội dung Cáo trạng, bản luận tội, không có quan điểm tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét hành vi của bị cáo bị truy tố: Hồi 09 giờ 50 phút, ngày 28/6/2021, tại bản Bó G, xã Quài N, huyện Tuần G, bị cáo bị bắt quả tang khi đang cất giấu trái phép 11 gói Heroine có khối lượng 0,64 gam nhằm mục đích sử dụng.
Hành vi của bị cáo được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01- 02); Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng (BL 16-17); Kết luận giám định (BL 50); các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung của bị cáo, bản tự khai của bị cáo, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và quá trình thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay. Hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Với tác hại của chất ma túy đối với sức khỏe con người và mối nguy hại của nó đối với gia đình và xã hội. Nhà nước và toàn thể nhân dân đang có những chính sách, biện pháp phòng chống ngăn chặn nhằm đẩy lùi tệ nạn và những tội phạm về ma túy thì bị cáo lại tiếp tay cho tội phạm ma túy phát triển, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.
Từ những phân tích trên, HĐXX khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.
Xét tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Bị cáo đã cất giấu trái phép 0,64 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt từ 01 đến 05 năm tù, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Lò Văn P sinh ra và lớn lên tại huyện Tuần G, tỉnh Điện Biên, học hết lớp 06 thì ở nhà lao động sản xuất cùng gia đình, sử dụng ma túy từ năm 2017. Bị cáo không có tiền án, tiền sự không có tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có anh trai là Lò Văn O được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng 3 và huy chương chiến sĩ vẻ vang, HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
HĐXX sẽ xem xét hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo để có mức hình phạt phù hợp với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhưng nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, xét đề nghị của đại diện VKS là có căn cứ nên cần được chấp nhận.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người không quen biết tại khu vực bản C, xã Quài N, huyện Tuần G, cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ được, HĐXX không xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Song xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo chỉ làm nông nghiệp, là người nghiện nên không có khả năng thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo, là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành cần được tịch thu tiêu hủy. Chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại xe TAURIUS, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 27Z1-069.35 mang tên Lò Văn P cơ quan điều tra đã thu giữ là phương tiện phạm tội. Xét thấy chiếc xe là tài sản chung của bị cáo với vợ là Lò Thị Th. Chị Lò Thị Th không biết bị cáo dùng xe vào việc phạm tội. Do vậy cần tịch thu sung quỹ nhà nước ½ giá trị chiếc xe máy trên, ½ giá trị chiếc xe máy trên cần trả cho bà Lò Thị Th. Chứng minh thư nhân dân thu giữ của bị cáo, xét thấy không liên quan đến vụ án, cần trả lại cho bị cáo.
Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy một phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa 0,56 gam Heroine đựng trong một túi nilon màu trắng hàn kín lại; 12 mảnh nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng. Tịch thu sung quỹ nhà nước ½ giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại xe TAURIUS, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 27Z1-069.35, số khung RLCS16S40CY028896, số máy 26SB-040246, xe cũ đã qua sử dụng là phương tiện phạm tội của bị cáo. Trả lại cho chị Lò Thị Th là vợ bị cáo ½ giá trị chiếc xe máy trên. Trả lại cho bị cáo 01 giấy CMTND mang tên Lò Văn P.
. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc diện được miễn án phí, HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuần g, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần G, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điểm s Khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
1. Về tội danh: Bị cáo Lò Văn P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt: Bị cáo Lò Văn P: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù
tính ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 28/6/2021.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy một phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa 0,56 gam Heroine đựng trong một túi nilon màu trắng hàn kín lại; 12 mảnh nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng. Tịch thu sung quỹ nhà nước ½ giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại xe TAURIUS, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 27Z1-069.35, số khung RLCS16S40CY028896, số máy 26SB-040246, xe cũ đã qua sử dụng là phương tiện phạm tội của bị cáo. Trả lại cho chị Lò Thị Th là vợ bị cáo ½ giá trị chiếc xe máy trên. Trả lại cho bị cáo 01 giấy CMTND mang tên Lò Văn P.
(Toàn bộ vật chứng đã được Công an huyện Tuần Giáo bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuần G hồi 16 giờ, ngày 05 tháng 10 năm 2021)
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo được miễn án phí hình sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày 25/10/2021; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần Bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 25/10/2021./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện B; - VKSND tỉnh Điện B; - VKSND huyện Tuần G; - Công an huyện Tuần G (3); - Sở Tư pháp tỉnh Điện B; - THA DS TG, THA HS; - Bị cáo; NCQL,NVLQ; - Lưu. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM HỘI THẨM Nguyễn Duy Lâm Phạm Hữu Chiến HỘI THẨM Lò Văn Hải Lò Văn Thương HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình H THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình Hà THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình Hà |