vanban.org

Bản án 04/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội Tuyên án 12/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Nguyễn Quang K 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 12/10/2020.

Về tang vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy có chữ ký của Nguyễn Quang K và giám định viên; 01 BKS xe máy 29N1 – 210.19. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Nguyễn Quang K 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 12/10/2020.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÓC SƠN- TP.HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-----------------
Bản án số: 04/2021/HS-ST
Ngày 12/01/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – TP.HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đăng Hải

Bà Đào Thị Đoan

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Hà – Cán bộ Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Mai Xiêm – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 208/2020/TLST - HSST ngày 02/12/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 204/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Quang K, Sinh năm 1998; ĐKHKTT và nơi ở: Thôn B 1, xã V, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Quang A (đã chết); Con bà: Đào Thị H, sinh năm 1980; Vợ, con chưa có. Theo danh chỉ bản số 000000573 ngày 15/10/2020 do Công an huyện Sóc Sơn - TP.Hà Nội lập thì bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/10/2020 đến nay tại Trại tạm giam số I, Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15h40’ ngày 12/10/2020, tổ công tác Công an xã Trung G, huyện Sóc Sơn phối hợp với Tổ Y27/ 141 - Công an TP Hà Nội làm nhiệm vụ trên đường Quốc lộ 3 thuộc địa phận phố Nỷ, xã Trung G, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội phát hiện 01 nam giới đi xe máy BKS: 29N1 - 210.19 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, nam giới khai họ tên là Nguyễn Quang K, sinh 1998, trú tại xóm B 1, xã V, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên và phát hiện, thu giữ bên trong cốp xe máy của Kiên 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng và 01 túi nilon chứa 10 viên nén màu hồng, K khai tinh thể màu trắng là ma túy đá và viên nén màu hồng là hồng phiến mua để sử dụng. Ngoài ra, còn tạm giữ của K 01 xe máy BKS: 29N1

- 210.19.

Tại Kết luận giám định số 8942 ngày 19/10/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an TP Hà Nội kết luận tang vật thu giữ của Nguyễn Quang K gồm: Tinh thể màu trắng bên trong túi nilon là ma túy loại Methaphetamine, khối lượng 0,890 gam và 10 viên nén màu hồng bên trong túi nilon là ma túy loại Methaphetamine, khối lượng 0,946 gam.

Quá trình điều tra làm rõ:

Khoảng 13h ngày 12/10/2020, K điều khiển xe máy BKS: 29N1 - 210.19 đi từ nhà lên khu vực xã N, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên để mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, K gặp 01 người nam giới không quen biết đứng ở ria đường QL3 và đặt vấn đề mua 200.000 đồng ma túy đá và 800.000 đồng ma túy hồng phiến. Nam giới này đống ý, nhận tiền và đưa lại cho K 01 túi nilon chứa ma túy đá và 01 túi nilon chứa 10 viên ma túy hồng phiến. Mua được ma túy, K điều khiển xe máy đi về nhà. Đến khoảng 15h cùng ngày, K giấu 02 túi ma túy trên vào cốp xe máy BKS: 29N1 - 210.19 để đi xuống Hà Nội sử dụng ma túy với bạn. Khi đi đến địa phận phố Nỷ, xã Trung G, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt giữ cùng tang vật.

Đối với người nam giới bán ma túy cho K, do Kiên không nhớ đặc điểm cụ thể của người này nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện Sóc Sơn không có căn cứ để điều tra làm rõ.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH BKS: 29N1 - 210.19 (số khung: RLHKF2514GY037889, số máy: KF26E0037942) thu giữ của K, kết quả tra cứu phương tiện giao thông đường bộ xác định BKS: 29N1 - 210.19 là biển số của chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo của ông Đặng Minh T, trú tại thôn K, xã Lệ Ch, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội. Xác minh tại Công an xã Lệ Ch xác định ông T đã chết. Tại Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Hà Nội xác định số khung: RLHKF2514GY037889, số máy: KF26E0037942 của chiếc xe tạm giữ của K không nguyên thủy. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ chủ phương tiện.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn Quang K đã khai nhận hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, xin giảm nhẹ hình phạt, lời khai của bị can phù hợp với biên bản kiểm tra, biên bản tạm giữ đồ vật và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi đánh giá chứng cứ, tính chất vụ án, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, kết luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Phạt: Nguyễn Quang K mức án từ 22 đến 25 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.

Về tang vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ đối với 01 phong bì niêm phong ma túy có chữ ký của Nguyễn Quang K và giám định viên và 01 Biển kiểm soát xe máy có biển số 29N1 – 210.19; Tịch thu bán sung công 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH có số khung RLHKF2514GY037889, số máy KF26E0037942để sung quỹ Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn; Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sóc Sơn đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo không có khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đều là hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Khoảng 12/10/2020 tại Phố N, xã Trung G, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội Nguyễn Quang K có hành vi Tàng trữ 0,890 gam tinh thể màu trắng là ma túy loại Methaphetamine và 0,946 gam ma túy dạng viên nén màu hồng là ma túy loại Methaphetamine. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai tàng trữ số ma túy trên để sử dụng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước. Vì vậy, hành vi của Nguyễn Quang Kiên đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, đó là tình tiết xem xét giảm nhẹ hình phạt theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện, không có tài sản riêng và thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong ma túy có chữ ký của Nguyễn Quang K và giám định viên cho tịch thu tiêu hủy;

Đối với 01 BKS xe máy 29N1 – 210.19 là biển số xe của chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo của ông Đặng Minh T trú tại thôn K, xã Lệ Ch, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội hiện ông T đã chết nên cho tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH thu giữ của bị cáo có số khung RLHKF2514GY037889, số máy KF26E0037942 bị cáo sử dụng để đi mua ma túy để sử dụng và cất giấu ma túy. Bị cáo khai chiếc xe mượn của chị Nguyễn Thị Hà L, địa chỉ xóm D, xã Tân H, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Chị L xác định chị không quen biết bị cáo K, không có chiếc xe máy như trên. Xem xét số khung, số máy của xe không nguyên thủy nên không tìm được chủ sở hữu , không có trong dữ liệu xe tang vật. Xét chiếc xe bị cáo dùng sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, nên cần tịch thu xung quỹ nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135; Điều 326; 328; 331 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Nguyễn Quang K 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 12/10/2020.

Về tang vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy có chữ ký của Nguyễn Quang K và giám định viên; 01 BKS xe máy 29N1 – 210.19.

- Tịch thu bán sung công 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH thu giữ của bị cáo (Tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

N¬i nhËn:

Cỡ chữ