vanban.org

Bản án 04/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 18/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Lê Thị Đ, Võ Q, Huỳnh Đức Ng, Nguyễn Quang L và Phan Ng c T phạm tội “Đánh bạc”;

Võ Q: số tiền 23 000 000đ (Hai mươi ba triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nư c Lê Thị Đ: số tiền 20 000 000đ (Hai mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nư c Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Thị Đ, Võ Q, Huỳnh Đức Ng, Nguyễn Quang L và Phan Ng c T phạm tội “Đánh bạc”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt các; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt hình phạt tiền
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHƯỚC SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NAM
Bản án số: 04/2021/HS-ST
Ngày 18-6-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đức Toàn

Ông Lưu Thành Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ng c Thành- Thư ký Tòa án nhân dân huy n Phư c S n, t nh Quảng Nam

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Đờ- Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huy n Phư c S n, t nh Quảng Nam xét xử s thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2021/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2021/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 6 năm 2021 đối v i các bị cáo:

1. Lê Thị Đ; sinh ngày 21 tháng 3 năm 1986; tại: huy n P, t nh Q; N i cư trú: thôn 5, xã Đ, huy n P, t nh Q; nghề nghi p: buôn bán; trình độ văn hóa (h c vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Vi t Nam; con ông: Lê Văn Đ1 (SN: 1958) và bà Phan Thị K (SN: 1959); có chồng Trần Văn V (SN: 1973) và 03 con, con l n nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không; hi n bị cáo đang bị áp dụng bi n pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

2. Võ Q; sinh ngày 29 tháng 3 năm 1984; tại: huy n S, t nh Q; N i cư trú: thôn 5, xã Đ, huy n P, t nh Q; nghề nghi p: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa (h c vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Vi t Nam; con ông: Võ B (SN: 1952) và bà Phạm Thị L1 (chết); tiền án, tiền sự: không; về nhân thân: Ngày 10/01/2007, bị Công an huy n Phư c S n, t nh Quảng Nam xử phạt vi phạm hành chính 1 500 000 đồng về hành vi “Đánh bạc”; hi n bị cáo đang bị áp dụng bi n pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

3. Huỳnh Đức Ng; sinh ngày 18 tháng 6 năm 1986; tại: thành phố T, t nh Q; N i cư trú: thôn 5, xã Đ, huy n P, t nh Q; nghề nghi p: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa (h c vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Vi t Nam; con ông: Huỳnh Đức N (chết) và bà Trần Thị Lý E (chết); tiền án, tiền sự: không; hi n bị cáo đang bị áp dụng bi n pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

4. Nguyễn Quang L; sinh ngày 05 tháng 6 năm 1986; tại: huy n Duy Xuyên, t nh Quảng Nam; N i cư trú: thôn 5, xã Đ, huy n P, t nh Q; nghề nghi p: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa (h c vấn): 2/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Vi t Nam; con ông: Nguyễn Quang D (SN: 1960) và bà Trần Thị U (SN: 1963); có vợ Ngô Thị Thanh H (SN: 1986) và 2 con, con l n sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không; về nhân thân: Ngày 16/5/2011, bị Tòa án nhân dân huy n Phư c S n, t nh Quảng Nam xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”; hi n bị cáo đang bị áp dụng bi n pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

5. Phan Ngọc T; sinh ngày 30 tháng 4 năm 1991; tại: huy n P, t nh Q; N i cư trú: thôn 5, xã Đ, huy n P, t nh Q; nghề nghi p: công nhân; trình độ văn hóa (h c vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Vi t Nam; con ông: Phan Ng c N1 (SN: 1963) và bà Nguyễn Thị M (SN: 1965); có vợ Trần Thị Mỹ L2 (SN: 1997) và 1 con sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: không; về nhân thân: Ngày 29/6/2010 bị Tòa án nhân dân huy n Phư c S n, t nh Quảng Nam xử phạt 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, ngày 09/02/2017 bị Công an huy n Phư c S n, t nh Quảng Nam, xử phạt vi phạm hành chính 1 500 000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, ngày 30/10/2018 bị Công an huy n Phư c S n, t nh Quảng Nam, xử phạt vi phạm hành chính 2 000 000 đồng về hành vi „Xâm hại sức khỏe người khác”; hi n bị cáo đang bị áp dụng bi n pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Trần Thị C, sinh năm: 1979; N i cư trú: thôn 5, xã Phư c Đức, huy n Phư c S n, t nh Quảng Nam, có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

Nguyễn Quang Dũng, sinh năm: 1960; N i cư trú: thôn 5, xã Đ, huy n P, t nh Q, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 24/01/2021, Tổ công tác Công an huy n Phư c S n phát hi n tại nhà bà Trần Thị C thuộc thôn 5, xã Đ, huy n P, t nh Q đang đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dư i hình thức binh sập xám. Lực lượng Công an huy n Phư c S n đã tiến hành kiểm tra, phát hi n những người tham gia đánh bạc gồm: Lê Thị Đ, Võ Q, Huỳnh Đức Ng. Khi lực lượng Công an huy n Phư c S n tiến hành kiểm tra thì trên chiếu bạc có tổng số tiền mặt là 5 200 000 đồng Các đối tượng khai nhận số tiền nêu trên được dùng để đánh bạc. Xét thấy, vụ vi c có dấu hi u phạm tội “Đánh bạc”, Công an huy n Phư c S n đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối v i các đối tượng nêu trên đồng thời thu giữ các tang vật sử dụng vào vi c đánh bạc.

Tang vật thu giữ gồm: Tiền mặt: 5 200 000 đồng (Năm triệu hai trăm nghìn đồng); 01 chiếc mền mỏng màu nâu đã qua sử dụng; 02 bộ bài tú l kh (01 bộ đã sử dụng, 01 bộ còn nguyên hộp chưa mở); thu giữ trên người Huỳnh Đức Ng số tiền 390 000 đồng, thu giữ trên người Võ Q số tiền 3 950 000 đồng, thu giữ trên người Lê Thị Đ số tiền 6 540 000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra các đối tượng khai nhận:

Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 24/01/2021, Lê Thị Đ, Võ Q, Nguyễn Q L và Phan Ng c T đến nhà bà Trần Thị C tại thôn 5, xã Đ, huy n P để viếng hư ng mẹ bà C và sau đó cùng nhau ăn nhậu, sau khi nhậu xong thì rủ nhau đánh bài bằng hình thức binh sập xám được thua bằng tiền. Cách thức ch i, sử dụng bộ bài “Tú l kh ” loại 52 quân bài, mỗi nhà cầm cái ba ván liên tục sau đó xoay vòng cho người khác cầm cái, mỗi ván chia bài theo thứ tự vòng tròn thành bốn nhà, mỗi nhà gồm 13 quân bài chia thành 3 chi, trong đó hai chi dư i là 5 quân bài và chi trên cùng là 3 quân bài Sau đó, nhà cái sẽ ra bài v i từng nhà con để phân định thắng thua, bài nhà nào thắng hai trong ba chi thì sẽ thắng. Mỗi ván số tiền thắng thua giao động từ 50 000 đồng đến 300 000 đồng Trư c khi bắt đầu ch i đánh bạc Lê Thị Đ lấy ra 1 250 000 đồng để trên chiếu bạc trư c vị trí Đ ngồi, Võ Q lấy ra số tiền 1 100 000 đồng để trên chiếu bạc trư c vị trí Q ngồi, Nguyễn Quang L lấy ra số tiền 1 200 000 đồng để trên chiếu bạc trư c vị trí L ngồi, Phan Văn T lấy ra số tiền 800 000 đồng và Huỳnh Đức Ng lấy ra số tiền 700 000 đồng để trên chiếu bạc trư c vị trí T và Ng ngồi. Phan Ng c T và Huỳnh Đức Ng cùng ch i chung một chân Trong lúc ch i T thua hết số tiền 800 000 đồng, sau đó mượn thêm của Ng số tiền 150.000 đồng Ch i đến khoảng 22 giờ 50 phút cùng ngày thì Phan Ng c T thua hết tiền nên đi về nhà còn lại Đ, Q, Ng và L tiếp tục ch i đến 23 giờ 00 phút cùng ngày thì bị Lực lượng Công an huy n Phư c S n phát hi n và bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền là 5 200 000 đồng (Năm triệu hai trăm ngàn đồng) và các dụng cụ phục vụ vi c đánh bạc gồm: 02 bộ bài (01 bộ đã qua sử dụng, 01 bộ còn nguyên hộp chưa mở). Thu giữ trên người Huỳnh Đức Ng số tiền 390 000 đồng, thu giữ trên người Võ Q số tiền 3.950.000 đồng, thu giữ trên người Lê Thị Đ số tiền 6.540.000 đồng.

Đối v i Lê Thị Đ: Tham gia v i vai trò vừa cầm cái vừa cược tiền Đến thời điểm Công an huy n Phư c S n phát hi n và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thì Đ đã tham gia cược tiền nhiều ván nhưng không rõ là đã thắng hay thua bao nhiêu tiền. Số tiền Đ mang theo trong người khi đến nhà bà C là h n 7 000 000 đồng. Đ lấy ra số tiền là 1 250 000 đồng sử dụng đánh bạc Đối v i số tiền 6 540 000 đồng trong túi quần, thì Lê Thị Đ khai nhận không có ý định sử dụng vào mục đích đánh bạc, vì số tiền này dùng để buôn bán.

Đối v i Võ Q: Tham gia v i vai trò vừa cầm cái vừa cược tiền Đến thời điểm Công an huy n Phư c S n phát hi n và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thì Q đã tham gia cược tiền nhiều ván nhưng không rõ đã thắng hay thua bao nhiêu tiền. Số tiền Q mang theo người khi đến nhà bà C là h n 5 000 000 đồng. Q lấy ra số tiền là 1 100 000 đồng để sử dụng vào vi c đánh bạc Đối v i số tiền 3 950 000 đồng trong túi áo ấm, thì Võ Q khai nhận không có ý định sử dụng vào mục đích đánh bạc, vì số tiền này để sử dụng trả tiền mua gạch làm nhà.

Đối v i Huỳnh Đức Ng: Tham gia v i vai trò vừa cầm cái vừa cược tiền. Đến thời điểm Công an huy n Phư c S n phát hi n và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thì Ng đã tham gia cược tiền nhiều ván có ván thắng, ván thua nhưng không rõ là bao nhiêu tiền. Số tiền Ng mang theo trong người khoảng h n 1 000 000 đồng. Ng lấy ra số tiền là 700 000 đồng để sử dụng đánh bạc và cho T mượn 150 000 đồng để T đánh bạc Đối v i số tiền 390 000 đồng trong túi quần thì Huỳnh Đức Ng khai nhận không có ý định sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Đối v i Nguyễn Quang L: Tham gia v i vai trò vừa cầm cái vừa cược tiền. Tại thời điểm Công an huy n Phư c S n phát hi n và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thì L đã bỏ trốn khỏi hi n trường, sáng ngày hôm sau L đến Công an huy n Phư c S n làm vi c. L khai nhận đã tham gia cược tiền nhiều ván nhưng không rõ đã thắng hay thua bao nhiêu tiền. Số tiền L mang theo trong người để sử dụng vào vi c đánh bạc là 1 200 000 đồng.

Đối v i Phan Ng c T: Tham gia v i vai trò vừa cầm cái vừa cược tiền. Tại thời điểm Công an huy n Phư c S n phát hi n và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thì T không có mặt, vì trư c đó do đã thua hết tiền nên T bỏ về nhà. Công an huy n Phư c S n đã tri u tập T đến để làm vi c. Tại c quan Công an T khai nhận đã tham gia đánh bạc và trư c khi ch i bạc T mang theo trong người số tiền là 800 000 đồng để ch i đánh bạc, trong lúc ch i thua hết tiền, nên T mượn thêm của Ng 150 000 000 đồng để ch i bạc. Tổng cộng số tiền T tham gia đánh bạc là 950 000 đồng.

Quá trình điều tra, các bị cáo Lê Thị Đ, Võ Q, Huỳnh Đức Ng, Nguyễn Quang L và Phan Ng c T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp v i biên bản vụ vi c, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác của vụ án.

Tại bản Cáo trạng số: 04A/CT-VKSPS-HS ngày 26 tháng 5 năm 2021 của Vi n kiểm sát nhân dân huy n Phư c S n, t nh Quảng Nam đã truy tố các bị cáo Lê Thị Đ, Võ Q, Huỳnh Đức Ng, Nguyễn Quang L và Phan Ng c T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và như nội dung cáo trạng

Tại phiên tòa đại di n Vi n kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối v i các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm tr ng nên được xem xét hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự Riêng đối v i bị cáo Lê Thị Đ, Võ Q và Huỳnh Đức Ng phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm tr ng được hưởng thêm tình tiết tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Thị Đ, Võ Q và Huỳnh Đức Ng từ 20 000 000 đồng đến 25 000 000 đồng để sung vào Ngân sách Nhà nư c Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Quang L và Phan Ng c T từ 20.000.000 đồng đến 25 000 000 đồng để sung vào Ngân sách Nhà nư c

Không đề nghị xử phạt bổ sung đối v i các bị cáo

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị trả lại cho bà Trần Thị C 01 chiếc mền mỏng màu nâu, có hoa văn màu trắng đã qua sử dụng do không liên quan đến vi c phạm tội; Tịch thu 02 bộ bài tú l kh (01 bộ đã qua sử dụng, 01 bộ còn nguyên hộp chưa mở) vật chứng này là công cụ dùng vào vi c phạm tội nên tịch thu để tiêu hủy; Tịch thu số tiền thu giữ trên chiếu bạc: 5 200 000 đồng (Năm triệu hai trăm nghìn đồng) là tiền các bị cáo dùng để đánh bạc để sung vào ngân sách Nhà nư c.

Đối v i số tiền thu giữ trên người Huỳnh Đức Ng 390 000 đồng, Võ Q 3 950 000 đồng, Lê Thị Đ 6 540 000 đồng. Do các bị cáo Ng, Q, Đ khai không sử dụng vào vi c đánh bạc vì vậy ngày 03/3/2021 C quan CSĐT Công an huy n Phư c S n đã trả lại cho các bị cáo nên không đề cập đến.

Các bị cáo đồng ý luận tội của Vi n kiểm sát và xin giảm nhẹ hình phạt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng ý v i luận tội của Vi n kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ s vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của C quan điều tra Công an huy n Phư c S n, t nh Quảng Nam, Điều tra viên, Vi n kiểm sát nhân dân huy n Phư c S n, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp v i quy định của pháp luật; các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của C quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của C quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp

Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Thị Đ, Võ Q, Huỳnh Đức Ng, Nguyễn Quang L và Phan Ng c T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu Lời khai của các bị cáo phù hợp v i lời khai của các bị cáo tại C quan điều tra, biên bản khám nghi m hi n trường và phù hợp v i các tài li u, chứng cứ khác có trong hồ s vụ án, thể hi n: Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 24/01/2021, tại nhà của bà Trần Thị C, Lê Thị Đ, Võ Q, Huỳnh Đức Ng, Nguyễn Quang L và Phan Ng c T đã đánh bạc v i hình thức binh xập xám được thua bằng tiền Quá trình đánh bạc thì Lê Thị Đ sử dụng số tiền 1 250 000 đồng, Võ Q sử dụng số tiền 1 100 000 đồng, Huỳnh Đức Ng sử dụng số tiền 700.000 đồng, Nguyễn Quang L sử dụng số tiền 1 200 000 đồng, Phan Ng c T sử dụng số tiền 950 000 đồng để đánh bạc Mặc dù, trong quá trình điều tra các bị cáo khai số người tham gia đánh bạc và số tiền của từng người sử dụng vào vi c đánh bạc còn chưa thống nhất Tuy nhiên, qua xét hỏi, thẩm vấn công khai tại phiên tòa đã có đủ c sở để khẳng định các bị cáo Lê Thị Đ, Võ Q, Huỳnh Đức Ng, Nguyễn Quang L và Phan Ng c T đã rủ nhau đánh bài bằng hình thức binh sập xám được thua bằng tiền. Tổng số tiền thu giữ trên chiếu bạc là 5 200 000 đồng Như vậy, hành vi của các bị cáo Lê Thị Đ, Võ Q, Huỳnh Đức Ng, Nguyễn Quang L và Phan Ng c T đã phạm tội “Đánh bạc” như Cáo trạng Vi n kiểm sát nhân dân huy n Phư c S n, t nh Quảng Nam truy tố đối v i các bị cáo là có c sở đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Tội phạm và hình phạt của các bị cáo được qui định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự

Đánh giá tính chất vụ án và hành vi phạm tội của các bị cáo: Thời gian gần đây tình hình trật tự an toàn trên điạ bàn huy n diễn biến phức tạp, các đối tượng thường xuyên tụ tập để đánh bạc được thua bằng tiền làm ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình trật tự an toàn xã hội, các bị cáo Lê Thị Đ, Võ Q, Huỳnh Đức Ng, Nguyễn Quang L và Phan Ng c T đến viếng hư ng mẹ bà C và rủ nhau đánh bạc Các bị cáo thay nhau cầm cái, chứ không có ai cầm đầu, lôi kéo, không thu tiền xâu nên phạm tội không có tổ chức Tuy nhiên, xét về hành vi, vai trò của từng bị cáo thì thấy: Bị cáo Võ Q sử dụng số tiền 1 100 000 đồng vào vi c đánh bạc, bị cáo tham gia v i vai trò vừa cầm cái vừa cược tiền Đến thời điểm Công an huy n Phư c S n phát hi n và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thì Q đã tham gia cược tiền nhiều ván nhưng không rõ đã thắng hay thua bao nhiêu tiền. Số tiền Q mang theo người để dùng vào vi c đánh bạc là 1 100 000 đồng. Q đã bị xử lý hành chính về hành vi “Đánh bạc” nhưng không lấy đây là bài h c để cải tạo trở thành người có ích cho xã hội mà Q lại tiếp tục thực hi n hành vi “Đánh bạc” Vì vậy, xử phạt Q mức hình phạt nặng h n các bị cáo khác.

Đối v i Phan Ng c T: T tham gia v i vai trò vừa cầm cái vừa cược tiền, số tiền T tham gia đánh bạc là 950 000 đồng. T đã bị Tòa án nhân dân huy n Phư c S n xử phạt 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; hai lần bị Công an xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” và “Xâm hại sức khỏe người khác”, nhưng T không lấy đây là bài h c để cải tạo trở thành người có ích cho xã hội mà T lại tiếp tục thực hi n hành vi “Đánh bạc” Vì vậy, xử phạt T mức hình phạt tư ng xứng v i hành vi phạm tội

Đối v i Nguyễn Quang L: L tham gia v i vai trò vừa cầm cái vừa cược tiền, số tiền L mang theo trong người để sử dụng vào vi c đánh bạc là 1.200.000 đồng. L đã bị Tòa án nhân dân huy n Phư c S n xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” L không lấy đây là bài h c để cải tạo trở thành người có ích cho xã hội mà lại tiếp tục thực hi n hành vi “Đánh bạc” Tuy nhiên, khi vi c đánh bạc bị phát hi n, các bị cáo khai không có L tham gia đánh bạc, nhưng L đã đến Công an để khai nhận hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, xử phạt L mức hình phạt tư ng xứng v i hành vi phạm tội

Đối v i Lê Thị Đ: Đ tham gia v i vai trò vừa cầm cái vừa cược tiền, số tiền Đ sử dụng để đánh bạc là 1 250 000 đồng. Số tiền Đ sử dụng vào vi c đánh bạc nhiều h n các bị cáo khác. Tuy nhiên, bị cáo Đ phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt. Vì vậy, xử phạt Đ mức hình phạt tư ng xứng v i hành vi phạm tội

Đối v i Huỳnh Đức Ng: Ng tham gia v i vai trò vừa cầm cái vừa cược tiền, số tiền Ng sử dụng để đánh bạc là 700 000 đồng. Ng là người sử dụng số tiền đánh bạc ít h n so v i các bị cáo khác và Ng cũng có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu chưa có tiền án, tiền sự. Vì vậy, xử phạt Ng hình phạt nhẹ h n so v i các bị cáo khác

Xét luận tội của Đại diện viện kiểm sát: Vi n kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo như: Quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm tr ng nên được xem xét hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự Riêng đối v i bị cáo Lê Thị Đ, Võ Q và Huỳnh Đức Ng phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm tr ng được hưởng thêm tình tiết tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt hình phạt tiền là hình phạt chính đối v i các bị cáo Lê Thị Đ, Võ Q, Nguyễn Quang L và Phan Ng c T là phù hợp nên chấp nhận Đối v i bị cáo Huỳnh Đức Ng có hoàn cảnh gia đình khó khăn, mẹ m i mất, nuôi cháu mồ côi, bản thân bị cáo không có vi c làm ổn định, gia đình thuộc hộ Ng của xã, nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối v i bị cáo Ng như đề nghị của Vi n kiểm sát.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không vi phạm tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm tr ng nên căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối v i các bị cáo Đối v i bị cáo Lê Thị Đ, Huỳnh Đức Ng và Võ Q phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm tr ng nên được áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự Đối v i bị cáo Huỳnh Đức Ng có hoàn cảnh gia đình khó khăn, thuộc hộ Ng của xã nên áp dụng thêm khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự để xem xét áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối bị cáo Ng là cũng đủ tác dụng giáo dục đối v i bị cáo

Không khấu trừ thu nhập vì bị cáo Huỳnh Đức Ng có hoàn cảnh gia đình khó khăn, mẹ m i mất, nuôi cháu mồ côi, bản thân bị cáo không có vi c làm ổn định, gia đình thuộc hộ Ng của xã.

Ngoài hình phạt chính, đáng lẽ ra các bị cáo còn có thể bị xử phạt bổ sung theo qui định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự Tuy nhiên, các bị cáo bị xử phạt tiền là hình phạt chính và bị cáo Ng, gia đình thuộc hộ Ng của xã nên không xử phạt bổ sung

Đối v i Trần Thị C, khi các bị cáo Lê Thị Đ, Võ Q, Huỳnh Đức Ng, Nguyễn Quang L và Phan Ng c T ch i đánh bạc tại nhà C được thua bằng tiền, thì C đã đi ngủ nên không biết. Khi Công an vào bắt quả tang Đ, Q và Ng về hành vi đánh bạc, nghe ồn ào C m i ra xem. Vì vậy, không đề cập truy cứu trách nhi m đối v i Trần Thị C, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra Công an huy n Phư c S n đã thu giữ: 01 chiếc mền mỏng màu nâu, có hoa văn màu trắng đã qua sử dụng; 02 bộ bài tú l kh (01 bộ đã qua sử dụng, 01 bộ còn nguyên hộp chưa mở); số tiền thu giữ trên chiếu bạc: 5 200 000 đồng (Năm triệu hai trăm nghìn đồng). Thu giữ trên người Huỳnh Đức Ng 390 000 đồng, Võ Q 3 950 000 đồng, Lê Thị Đ 6 540 000 đồng.

Căn cứ điểm a khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bà Trần Thị C 01 chiếc mền mỏng màu nâu, có hoa văn màu trắng đã qua sử dụng do không liên quan đến vi c phạm tội; Tịch thu 02 bộ bài tú l kh (01 bộ đã qua sử dụng, 01 bộ còn nguyên hộp chưa mở) vật chứng này là công cụ dùng vào vi c phạm tội nên tịch thu để tiêu hủy; Tịch thu số tiền thu giữ trên chiếu bạc: 5 200 000 đồng (Năm triệu hai trăm nghìn đồng) là tiền các bị cáo dùng để đánh bạc để sung vào ngân sách Nhà nư c.

Đối v i số tiền thu giữ trên người Huỳnh Đức Ng 390 000 đồng, Võ Q 3 950 000 đồng, Lê Thị Đ 6 540 000 đồng. Do các bị cáo Ng, Q, Đ khai không sử dụng vào vi c đánh bạc. Vì vậy, ngày 03/3/2021 C quan CSĐT Công an huy n Phư c S n đã trả lại cho các bị cáo nên không đề cập đến.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án thì các bị cáo Lê Thị Đ, Võ Q, Nguyễn Quang L và Phan Ng c T phải chịu

Đối v i bị cáo Huỳnh Đức Ng thuộc hộ nghèo và có đ n xin miễn nộp tiền án phí, nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án thì bị cáo Ng được miễn nộp tiền án phí hình sự s thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Lê Thị Đ, Võ Q, Huỳnh Đức Ng, Nguyễn Quang L và Phan Ng c T phạm tội “Đánh bạc”;

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo:

Võ Q: số tiền 23 000 000đ (Hai mươi ba triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nư c

Lê Thị Đ: số tiền 20 000 000đ (Hai mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nư c

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo:

Phan Ng c T: số tiền 22 000 000đ (Hai mươi hai triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nư c

Nguyễn Quang L: số tiền 20 000 000đ (Hai mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nư c

Kể từ ngày bản án có hi u lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo:

Huỳnh Đức Ng: 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ; thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày c quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án

Giao bị cáo Huỳnh Đức Ng cho Uỷ ban nhân dân xã Phư c Đức, huy n Phư c S n, t nh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ Gia đình bị cáo có trách nhi m phối hợp v i Uỷ ban nhân dân xã Phư c Đức, huy n Phư c S n, t nh Quảng Nam trong vi c giám sát, giáo dục.

Trường hợp bị cáo thay đổi n i cư trú thì thực hi n theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo phải thực hi n một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.

- Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bà Trần Thị C 01 chiếc mền mỏng màu nâu, có hoa văn màu trắng đã qua sử dụng; Tịch thu 02 bộ bài tú l kh (01 bộ đã qua sử dụng, 01 bộ còn nguyên hộp chưa mở) để tiêu hủy; Tịch thu số tiền thu giữ trên chiếu bạc: 5 200 000 đồng (Năm triệu hai trăm nghìn đồng) là tiền các bị cáo dùng để đánh bạc để sung vào ngân sách Nhà nư c.

Số tiền hi n Công an huy n Phư c S n đang tạm gửi tại tài khoản số 3949 0 1053629 00000 Kho bạc Nhà nư c huy n Phư c S n

Vật chứng hi n Chi cục thi hành án dân sự huy n Phư c S n đang tạm giữ tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/3/2021.

- Bị cáo Lê Thị Đ, Võ Q, Nguyễn Quang L và Phan Ng c T phải chịu án phí hình sự s thẩm mỗi bị cáo: 200 000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo Huỳnh Đức Ng được miễn nộp tiền án phí hình sự s thẩm.

Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án s thẩm

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.

Cỡ chữ