vanban.org

Bản án 04/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau Tuyên án 08/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điều luật áp dụng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hình Phạt: Xử phạt bị cáo Trương Văn T 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành phạt tính từ ngày 16/12/2020.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điều luật áp dụng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2021/HS-ST
Ngày 08 - 3 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sơn Ngọc Trọng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Minh Út.

Ông Vũ Minh Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: ông Huỳnh Trung Tính - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 04/2021/TLST-HS, ngày 08 tháng 02 năm 2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2021/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2021, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Văn T, sinh ngày 01/6/1989, tại tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: Khóm 4, thị t, huyện P, tỉnh C; Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông Trương Văn T2và bà Huỳnh Thị P; Vợ: Nguyễn Hồng P2; Con: Có 02 người, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án: Không; Tiền sự: Có 01 tiền sự (năm 2020, bị Ủy ban nhân dân thị trấn t ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy); Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2020, chuyển tạm giam từ ngày 22/12/2020 đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 05 phút, ngày 16 tháng 12 năm 2020, tổ công tác thuộc Đồn biên phòng Cái Đôi Vàm đang làm nhiệm vụ ở khu vực Khóm 4, thị t, huyện P, tỉnh C phát hiện Trương Văn T có nhiều biểu hiện nghi vấn về việc tàng trữ trái phép chất ma túy nên tiến hành kiểm tra phát hiện Tiền cất giấu bên trong cái bóp (ví) da màu đen hiệu CROCODILE bên trong có 01 đoạn ống hút màu trắng bịt kín hai đầu được Cộn trong một tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, loại tiền Polyme, trong đoạn ống hút là các hạt tinh thể rắn, màu trắng nghi là ma túy nên Đồn biên phòng Cái Đôi Vàm đã tiến hành niêm phong thu giữ và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Qua làm việc, Trương Văn T thừa nhận do nghiện ma túy nên Tiền mua ma túy của hai người tên C ở Sào Lưới, xã Nguyễn Việt Khái cất giấu để sử dụng.

Tại phiên tòa, bị cáo trình bày: Bị cáo là người nghiện ma túy từ năm đầu năm 2020 cho đến nay. Để có ma túy sử dụng, nên bị cáo liên hệ qua điện thoại với hai người tên C ở Sào Lưới, xã Nguyễn Việt Khái để mua ma túy về cất giấu nhằm mục đích sử dụng cho cá nhân, không có bán ma túy cho ai khác. Ngày 16/12/2020, bị cáo cất giấu ma túy trong người thì bị lực lượng tổ công tác thuộc Đồn Biên Phòng Cái Đôi Vàm khám xét và bắt quả tang. Trong suốt quá trình điều tra thì bị cáo đã khai nhận toàn hành vi. Bị cáo khai nhận cáo trạng Viện kiểm sát tống đạt cho bị cáo và cáo trạng công bố tại phiên tòa là đúng với hành vi thực hiện của bị cáo. Bị cáo bị truy tố về tội tàng trữ trái phép chất ma túy là không oan ức cho bị cáo, thừa nhận có lỗi nghiêm trọng vì đã vi phạm pháp luật hình sự. Từ khi bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay thì bị cáo đã ăn năn hối cải, xin được nhận sự khoan hồng của pháp luật.

Tại Bản kết luận giám định số 07/GĐH-PC09, ngày 18 tháng 12 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong đoạn ống hút bịt kín hai đầu được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật (kí hiệu A1) gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,2570 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 04/CT-VKS ngày 08/02/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đã truy tố bị cáo Trương Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa trong phần tranh luận, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trương Văn T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Đề nghị xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy một phong bì hoàn mẫu số 07-GĐH/PC09 ngày 18 tháng 12 năm 2020, có dấu xác nhận của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, bên trong có 0,1881 gam tinh thể màu trắng; 0,9050 gam tinh thể màu trắng; 01 cái bóp (ví) da màu đen, hiệu CROCODILE; 01 chai nhựa màu xanh, nắp chai màu đỏ, trên nắp có gắn 01 ống thủy tinh màu trắng và 01 ống nhựa màu trắng; 01 hộp quẹt ga hiệu Việt Hoa; 02 ống nhựa màu trắng trong. Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện tại do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân quản lý.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung quỹ một tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, loại tiền Polyme.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Kiểm sát viên tại phiên tòa luận tội: Khoảng 07 giờ 05 phút, ngày 16 tháng 12 năm 2020, tổ công tác thuộc Đồn biên phòng Cái Đôi Vàm đã kiểm tra khám xét trên người bị cáo T thu giữ cái bóp (ví) da màu đen hiệu CROCODILE bên trong có 01 đoạn ống hút màu trắng bịt kín hai đầu được Cộn trong một tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, loại tiền Polyme, trong đoạn ống hút là các hạt tinh thể rắn, màu trắng nghi là ma túy nên Đồn biên phòng Cái Đôi Vàm đã tiến hành niêm phong thu giữ và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tại kết luận số 07/GĐH-PC09, ngày 18 tháng 12 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong đoạn ống hút bịt kín hai đầu được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật (kí hiệu A1) gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,2570 gam, loại Methamphetamine. Qua làm việc, bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm nghiêm trọng cho xã hội, xâm phạm pháp luật hình sự. Khi thực hiện hành vi bị cáo đủ tuổi luật định, nhận thức diễn ra bình thường. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự, nay vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo.

Qua đó, xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là phù hợp với thực tế xảy ra, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo, phù hợp vật chứng thu giữ, bản ảnh tang vật, bản ảnh hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận giám định và tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Do đó, lời khai của bị cáo như trên là có căn cứ chấp nhận.

Xét hành vi bị cáo cho thấy: Động cơ bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi tàng trữ chất Methamphetamine với trọng lượng 0,2570gam là xâm phạm đến khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi, bị cáo đã đủ tuổi luật định, quá trình hoạt động nhận thức của bị cáo đang diễn ra bình thường, bị cáo đủ điều kiện để chịu trách nhiệm hình sự. Qua phân tích và nhận định như trên, xét quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát về hành vi của bị cáo là có căn cứ và Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội danh của Điều luật quy định.

Xét tính chất và mức độ hậu quả hành vi cho thấy, bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây ra dư luận xấu trong xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, Methamphetamine là chất bị cấm tàng trữ và sử dụng. Bản thân bị cáo nhận thức rất rõ tác hại của ma túy, là làm nguy hại đến sức khỏe, đời sống bình thường của con người, làm suy thoái nòi giống, gián tiếp gây ra các tệ nạn, các tội phạm khác trong xã hội, có thể dẫn đến các bệnh xã hội, nhất là căn bệnh thế kỷ mà cả thế giới đang gánh nặng và chung tay cứu chữa. Bị cáo là thanh niên, là thế hệ của tương lai. Lẽ ra, bị cáo phải có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Ngược lại, vì sự đua đòi, ham muốn tầm thường, dẫn đến sự lầm đường lạc lối và Cối cùng là bị cáo phạm tội. Hậu quả xảy ra như trên là thể hiện ý chí mong muốn của bị cáo.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm nghiêm trọng cho xã hội. Nay cần thiết phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Từ đó, có điều kiện để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Qua đó cũng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm cho xã hội.

Xét nhân thân, bị cáo có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải. Do đó, xét cho bị cáo được nhận sự khoan hồng của pháp luật, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 của Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo T, tên C ở ấp Sào Lưới, xã Nguyễn Việt Khái, chưa xác định được lý lịch và địa chỉ, Cơ quan điều tra tách ra, tiếp tục làm rõ xử lý sau là phù hợp.

Xét thấy Kiểm sát viên đề nghị xử lý về hình phạt đối với bị cáo như nêu trên là phù hợp với tính chất hành vi, hậu quả của bị cáo gây ra, nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận.

Đối với vật chứng vụ án theo quan điểm đề nghị xử lý của Kiểm sát viên như trên là phù hợp và có căn cứ chấp nhận.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Điều luật áp dụng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Các điểm a, c Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

3. Hình Phạt: Xử phạt bị cáo Trương Văn T 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành phạt tính từ ngày 16/12/2020.

4. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy một phong bì hoàn mẫu số 07-GĐH/PC09 ngày 18 tháng 12 năm 2020, có dấu xác nhận của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, bên trong có 0,1881 gam tinh thể màu trắng; 0,9050 gam tinh thể màu trắng; 01 cái bóp (ví) da màu đen, hiệu CROCODILE; 01 chai nhựa màu xanh, nắp chai màu đỏ, trên nắp có gắn 01 ống thủy tinh màu trắng và 01 ống nhựa màu trắng; 01 hộp quẹt ga hiệu Việt Hoa; 02 ống nhựa màu trắng trong. Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/02/2021.

Tịch thu sung quỹ một tờ tiền Việt Nam đồng có mệnh giá 20.000 đồng (Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Tân đã gửi vào tài khoản của Công an huyện Phú Tân tại Kho bạc Nhà nước).

5. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trương Văn T phải chịu 200.000 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo Trương Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ