- Tranh chấp gì? án hình sự — "tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2021/HS-ST Ngày: 01/4/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhẫn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Ngƣ
Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí
2. Ông Trƣơng Thoại Lƣợng
Nghề nghiệp: Nguyên là Bí thư đoàn Thanh niên thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Cẩm Vân là thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Cao Trƣơng Minh Đức - Kiểm sát viên
Ngày 01 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2021/TLST- HS, ngày 04 tháng 02 năm 2021 (theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2021/QĐXXST-HS ngày 10/3/2021) và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2021/QĐST-HS ngày 22/3/2021, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn P, sinh ngày 29/10/1998, tại tỉnh G; nơi cư trú: ấp P, xã B, huyện T, tỉnh G; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tấn Đ và bà Phan Thị H; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: không; Tiền sự: không; bị cáo bị Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 14/10/2020, sau đó bị khởi tố và chuyển tạm giam cho đến nay (bị cáo có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Ông Hồ Linh S(B), sinh ngày 17/7/2007; nơi cư trú: Số 62/39, đường H, phường M, quận T, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Ngườitham gia tố tụng khác(người làm chứng):
1. Ông Hồ Văn N, sinh năm 1998; nơi cư trú: ấp 5, xã T, huyện M, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
2. Ông Nguyễn Thành A (S, Đ), sinh năm 1993; nơi cư trú: ấp 8, xã H, huyện Đ, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
3. Bà Trần Thị Thanh M, sinh năm 1988, nơi cư trú: ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hồ Linh S: Bà Hồ Linh X, sinh năm 1985, nơi cư trú: Số 62/39, đường H, phường M, quận T, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 05 giờ ngày 13/10/2020, P đang ở thuê tại nhà nghỉ số 28, gần bến xe Miền Tây, thành phố Hồ Chí Minh, thì Hồ Linh S (bạn của P) điện thoại rủ đến khu vực công viên L, thuộc quận S, thành phố Hồ Chí Minh để uống cà phê nên P đồng ý. Khi đang uống cà phê, P rủ S mua ma túy về sử dụng chung thì S đồng ý nhưng nói hết tiền. Sau đó, P bắt xe Honda ôm (loại xe công nghệ grab) của một người thanh niên (không rõ họ, tên và địa chỉ) đi từ Công viên L đến đường H, quận M, thành phố Hồ Chính Minh để mua 10 gói ma túy (loại ma túy đá) của người phụ nữ tên L (không xác định họ, tên và địa chỉ) với số tiền 2.870.000 đồng. Sau khi có ma túy, P rủ S đến nhà nghỉ số 28 gần bến xe Miền Tây (nơi P đang thuê ở qua đêm) để sử dụng trái phép chất ma túy chung, thì S đồng ý. Sau khi sử dụng trái phép chất ma túy xong, P trả phòng và điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 60B3-501.54 chở S đi về Sóc Trăng chơi cùng với Nguyễn Thanh A, Hồ Văn N và Trần Thị Thanh M.
Đến khoảng 00 giờ 10 phút ngày 14/10/2020, khi P điều khiển xe mô tô đến khu vực ấp Đ, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng thì bị lực lượng Công an huyện Châu Thành yêu cầu dừng xe để kiểm tra thì phát hiện trong túi xách màu đen đeo trước ngực của P 09 gói nylon màu trắng được hàn kín (theo lời khai của P là ma túy đá) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Châu Thành tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đồng thời niêm phong 09 gói nylon màu trắng (được đánh số thứ tự từ số 01 đến 09) và tạm giữ một số phương tiện có liên quan đến vụ án để phục vụ công tác điều tra theo quy định của pháp luật.
Tại bản kết luận giám định số 132/GĐMT-PC09, ngày 16/10/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận: 09 gói nylon được hàn kín đã được niêm phong gửi đi giám định đều là chất ma túy, loại Methamphetamine có tổng trọng lượng 7,4570 gam (trong đó gói 1 là 5,5982 gam, gói 2 là 0,1216 gam, gói 3 là 0,1677 gam, gói 4 là 0,2590 gam, gói 5 là 0,1994 gam, gói 6 là 0,3865 gam, gói 7 là 0,2539 gam, gói 08 là 0,1609 gam và gói 09 là 0,3098 gam). Sau đó, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng đã hoàn lại cho Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng chất ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định là 7,2127 gam (đã được niêm phong).
Ngày 16/10/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với Nguyễn Văn P, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại cáo trạng số 02/CT-VKS-CT, ngày 02/02/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng để xét xử Nguyễn Văn P, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2, Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm g khoản 2, Điều 249 Bộ luật Hình sự; các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Bộ luật Hình sự: đề nghị tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn P, từ 05 năm tù đến 05 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu và tiêu hủy: Chất ma túy loại Methamphetamine được hoàn lại sau giám định có tổng khối lượng 7,2127 gam (đã được niêm phong); 01 cái cân tiểu ly kích thước (7x3x1,5) cm; 01 chai nhựa màu trắng cao 8,5cm, đường kính 2,5cm, trên nắp chai có gắn một ống thủy tinh dài 13,5cm hình cong, một đầu bị vỡ không rõ hình dạng và 01 ống nhựa màu cam sọc trắng dài 19cm; 01 ống nhựa màu vàng cam dài 7cm; 01 ống nhựa màu trắng có một đầu sọc xanh dài 16,5cm; 01 ống thủy tinh màu trắng, hình cong, một đầu tròn dài 13,5cm; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng dài 8,5cm; 01 miếng kim loại màu trắng, hình tròn, đường kính 1,5cm; 02 bật lửa trong đó một cái màu xanh, một cái màu đỏ; 01 cặp da màu đen dài 58cm.
Đề nghị tịch thu sung quỹ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đen bạc, số máy VTT15JL1952FMH005224, số khung RRKWCHOUM7XZ05224, xe có gắn biển số 60B3-501.54.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xám xanh có số thuê bao sim 1: 0928819215, sim 2: 0358280061.
Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, ý kiến của luật sư, bị cáo cùng lời khai của những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng, mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử và lời khai của họ đã có trong hồ sơ vụ án, nên căn cứ Điều 292, 293 và Điều 299 Bộ luật Tố tụng Hình sự, quyết định xét xử vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng nêu trên.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn P đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được.
Bị cáo Nguyễn Văn P đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, ma túy là độc dược gây nghiện nên được Nhà nước độc quyền quản lý. Tất cả các hình thức tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy đều bị Nhà nước nghiêm cấm. Bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo vì mục đích sử dụng để thỏa mãn cơn nghiện cho bản thân mà cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là việc làm trái pháp luật, là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Cũng từ việc sử dụng ma túy, một số người đã tự hủy hoại nhân cách, tha hóa bản thân, sa chân vào con đường sai trái, là nguy cơ dẫn đến các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác.
Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi của bị cáo dù xuất phát từ mục đích nào cũng đều là trái pháp luật, gây ra những tổn hại về thể chất và tinh thần, làm suy kiệt nòi giống, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội, là mối quan tâm của toàn xã hội nên cần xử lý bị cáo bằng hình phạt nghiêm khắc để duy trì kỉ cương pháp luật, răn đe giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời để bị cáo học tập, cải tạo, được giáo dục trong một môi trường có tính kỷ luật để sớm nhận thức việc làm sai trái, trở thành người có ích cho xã hội.
Về tình tiết định khung: Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Nguyễn Văn P có tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự “Heroin, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam”.
Về tình tiết giảm nhẹ: Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Văn P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, từ nhỏ bị cáo bỏ nhà đi khỏi địa phương, nên không được sự quam tâm giáo dục của gia đình, có trình độ học vấn thấp, am hiểu pháp luật còn hạn chế. Cho nên, cần xem xét, áp dụng tình tiết nêu trên để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định theo quy định tại điểm s, khoản 1 và khoản 2, Điều 51 và Bộ luật hình sự.
Đối với người phụ nữ tên L (không xác định họ, tên và địa chỉ cụ thể ở thành phố Hồ Chí Minh), là người trực tiếp bán ma túy cho bị cáo P trên đường H, quận M, thành phố Hồ Chí Minh: theo lời khai của bị cáo P, khi bán ma túy thì bà L đeo khẩu trang nên bị cáo không nhìn thấy mặt, bị cáo chỉ biết tên L còn họ, tên và địa chỉ cụ thể của bà L ở đâu thì bị cáo không biết, qua đó Cơ quan điều tra chưa triệu tập để ghi lời khai được, nên không đặt ra xem xét.
Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hồ Linh S, sinh ngày 17/7/2007 (mới hơn 13 tuổi) là người trực tiếp đi chung xe với bị cáo P từ thành phố Hồ Chí Minh về Sóc Trăng, cũng tham gia sử dụng ma túy chung với bị cáo P tại thành phố Hồ Chí Minh. Việc bị cáo P tàng trữ trái phép 09 gói ma túy loại Methamphetamine để trong túi xách màu đen trước ngực thì Sơn không biết. Ngoài ra, S cũng chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nên không đặt ra để xem xét.
Về vật chứng của vụ án: trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng đã tạm giữ: Chất ma túy loại Methamphetamine được hoàn lại sau giám định có tổng khối lượng 7,2127 gam (đã được niêm phong); 01 cái cân tiểu ly kích thước (7x3x1,5) cm; 01 chai nhựa màu trắng cao 8,5cm, đường kính 2,5cm, trên nắp chai có gắn một ống thủy tinh dài 13,5cm hình cong, một đầu bị vỡ không rõ hình dạng và 01 ống nhựa màu cam sọc trắng dài 19cm; 01 ống nhựa màu vàng cam dài 7cm; 01 ống nhựa màu trắng có một đầu sọc xanh dài 16,5cm; 01 ống thủy tinh màu trắng, hình cong, một đầu tròn dài 13,5cm; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng dài 8,5cm; 01 miếng kim loại màu trắng, hình tròn, đường kính 1,5cm; 02 bật lửa trong đó một cái màu xanh, một cái màu đỏ; 01 cặp da màu đen dài 58cm.
Xét thấy, các vật chứng nêu trên, là công cụ phạm tội, nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đen bạc, số máy VTT15JL1952FMH005224, số khung RRKWCHOUM7XZ05224, xe có gắn biển số 60B3-501.54 . Xét thấy, đay là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung qũy theo quy định của pháp luật.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xám xanh có số thuê bao sim 1: 0928819215, sim 2: 0358280061. Xét thấy, đây là tài sản của bị cáo, nên cần giao trả cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn P là người bị kết án, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm g khoản 2, Điều 249 Bộ luật Hình sự; các điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47; Điều 50, Bộ luật hình sự; khoản 1 và điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 299, Điều 333 và Điều 338 Bộ luật Tố tụng hình sự; `
Căn cứ khoản 1, Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P 05 (năm) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 14/10/2020.
3.Về vật chứng của vụ án: Tuyên tịch thu tiêu hủy: Chất ma túy loại Methamphetamine được hoàn lại sau giám định có tổng khối lượng 7,2127 gam (đã được niêm phong); 01 cái cân tiểu ly kích thước (7x3x1,5) cm; 01 chai nhựa màu trắng cao 8,5cm, đường kính 2,5cm, trên nắp chai có gắn một ống thủy tinh dài 13,5cm hình cong, một đầu bị vỡ không rõ hình dạng và 01 ống nhựa màu cam sọc trắng dài 19cm; 01 ống nhựa màu vàng cam dài 7cm; 01 ống nhựa màu trắng có một đầu sọc xanh dài 16,5cm; 01 ống thủy tinh màu trắng, hình cong, một đầu tròn dài 13,5cm; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng dài 8,5cm; 01 miếng kim loại màu trắng, hình tròn, đường kính 1,5cm; 02 bật lửa trong đó một cái màu xanh, một cái màu đỏ; 01 cặp da màu đen dài 58cm.
Tuyên tịch thu sung quỹ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đen bạc, số máy VTT15JL1952FMH005224, số khung RRKWCHOUM7XZ05224, xe có gắn biển số 60B3-501.54.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xám xanh có số thuê bao sim 1: 0928819215, sim 2: 0358280061.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03/02/2021, giữa Công an huyện Châu Thành và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu thành, tỉnh Sóc Trăng).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn P phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
5. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng măt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7,7a và Điều 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện CT; - Bị cáo, người có liên quan; - Chi cục THADS huyện CT; - Cơ quan THAHS Công an huyện CT; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Nhẫn |