- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Diệu Y-Mạnh Văn th"
- Tòa quyết gì? Xét xử vắng mặt anh Mạnh Văn Th.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2021/HNGĐ-ST Ngày: 02 - 4 - 2021 V/v tranh chấp Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Đức
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Xuân Hòa
2. Ông Hoàng Công Nghĩa
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thục Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 124/2020/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Diệu Y, sinh năm 1998; nơi cư trú: thôn A, xã Gi, huyện Gi, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Mạnh Văn Th, sinh năm: 1990; địa chỉ nơi đăng ký thường trú: thôn V, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 21 tháng 9 năm 2020, lời khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phạm Thị Diệu Y trình bày:
Chị và anh Mạnh Văn Th kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 27 tháng 02 năm 2017 tại UBND xã Gi, huyện Gi, tỉnh Quảng Trị. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì cuối năm 2017 xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường cãi vã, xúc phạm nhau, mức độ ngày càng trầm trọng. Dù gia đình hai bên đã khuyên giải, động viên nhiều lần nhưng vẫn không thể khắc phục được. Vợ chồng đã ly thân vào cuối năm 2017, từ đó đến nay không còn qua lại, quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, ly thân nhau đã lâu, mục đích hôn nhân không đạt nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Mạnh Văn Th.
Về con chung: Chị xác định vợ chồng có 01 con chung là Mạnh Phạm Nguyệt A, sinh ngày 27 tháng 3 năm 2017. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị thừa nhận vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; giấy triệu tập để anh Th tham gia tố tụng nhưng anh Th không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành xác minh tại Uỷ ban nhân dân xã Quảng Lộc, thị xã Ba Đồn, kết quả cho thấy: Bà Phạm Thị X là mẹ đẻ của anh Mạnh Văn Th đã nhận được đầy đủ các văn bản, giấy tờ do Tòa án tống đạt và đã thông báo lại cho con trai là anh Mạnh Văn Th. Tuy nhiên do anh Th đang đi làm ăn xa, nên không đến Tòa án theo thông báo, giấy triệu tập của Tòa án để làm việc. Ngày 26/02/2021, Toà án Quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập chị Y, anh Th đến phiên toà vào ngày 15/3/2021, nhưng chỉ có chị Y có mặt; anh Th vắng mặt không có lý do nên Toà án phải hoãn phiên toà. Ngày 01/4/2021, Toà án mở phiên toà lần hai, tiếp tục triệu tập các bên đương sự đến tham gia phiên toà nhưng anh Th vẫn vắng mặt. Qua xác minh tại Uỷ ban nhân dân xã Quảng Lộc, thị xã Ba Đồn xác định được: Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà, các giấy triệu tập đến phiên toà của Toà án đã được cán bộ Ủy ban tống đạt đến nhà của anh Th; mẹ đẻ anh Thiện là bà Phạm Thị X đã nhận và thông báo lại các văn bản, giấy tờ do Tòa án tống đạt cho anh Th. Tuy nhiên anh Th vẫn vắng mặt, không thể hiện có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Diệu Y.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình không có gì sai phạm, bị đơn không chấp hành việc thông báo, triệu tập của Toà án, gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án.
- Về nội dung: Đề nghị căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, xét xử vắng mặt anh Mạnh Văn Th; căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Phạm Thị Diệu Y; căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình giao con chung Mạnh Phạm Nguyệt A, sinh ngày 27 tháng 3 năm 2017 cho chị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; chị Y không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét; tài sản chung, nợ chung không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
- Về thẩm quyền: Chị Phạm Thị Diệu Y có đơn yêu cầu xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Mạnh Văn Th. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là anh Mạnh Văn Th có đăng ký thường trú tại thôn V, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình nên căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn.
- Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn đã thực hiện các thủ tục tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho anh Mạnh Văn Th. Tại phiên Tòa hôm nay anh Th vẫn vắng mặt, do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Thiện là phù hợp với điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân:
Chị Y và anh Th kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nên quan hệ hôn nhân của hai người được xác định là hoàn toàn hợp pháp.
Sau khi kết hôn, theo chị Y trình bày, cuộc sống chung sau hôn nhân xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng có những mâu thuẫn không giải quyết được nên anh chị đã sống ly thân vào cuối năm 2017 cho đến nay, không ai quan tâm gì đến ai. Quá trình giải quyết vụ án, chị Y vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Th.
Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Y và anh Th bắt nguồn từ việc vợ chồng chung sống nhưng không đồng quan điểm, đã sống ly thân hơn 03 năm nay, không còn quan tâm, chăm sóc gì đến nhau. Chứng tỏ cuộc sống hôn nhân của chị Y và anh Th không còn hạnh phúc, không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Quá trình tố tụng Tại tòa án, bị đơn anh Mạnh Văn Th vắng mặt, không thể hiện có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của chị Y, không có bất cứ động thái hay biện pháp nào để níu kéo, cứu vãn cuộc hôn nhân này. Hội đồng xét xử xét thấy cần cho ly hôn để hai bên sớm ổn định cuộc sống. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Y; căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Y được ly hôn với anh Th là phù hợp.
Về quan hệ con chung:
Chị Y xác định quá trình chung sống sau kết hôn giữa chị và anh Th có 01 con chung Mạnh Phạm Nguyệt A, sinh ngày 27 tháng 3 năm 2017. Nếu vợ chồng ly hôn chị Y có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện tại con chung Mạnh Phạm Nguyệt A, sinh ngày 27 tháng 3 năm 2017, còn nhỏ tuổi, đang ở với chị Y. Cháu A cần được sự chăm sóc, giúp đỡ từ mẹ; hiện tại chị Y cũng có công việc ổn định; nghĩ nên giao cháu A cho chị Y tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình giao con chung Mạnh Phạm Nguyệt A, sinh ngày 27 tháng 3 năm 2017 cho chị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp. Chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Th cấp dưỡng nuôi con chung, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án, chị Y xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Phạm Thị Diệu Y phải chịu phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về “mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 22; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về “mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
1. Xét xử vắng mặt anh Mạnh Văn Th.
2. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Phạm Thị Diệu Y; xử cho chị Phạm Thị Diệu Y được ly hôn với anh Mạnh Văn Th.
Giấy chứng nhận kết hôn số 03/2017, ngày 27/02/2017 tại Ủy ban nhân dân xã Gio Sơn, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị không còn giá trị pháp lý khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Về quan hệ con chung: Xử giao con chung Mạnh Phạm Nguyệt A, sinh ngày 27/3/2017 cho chị Phạm Thị Diệu Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Y không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Khi nào chị Y có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh Mạnh Văn Th có quyền qua lại thăm con; chị Phạm Thị Diệu Y và các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Th trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết anh Th có thể xin thay đổi việc nuôi con hoặc góp phần phí tổn nuôi con sau này.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
5. Về án phí sơ thẩm: Chị Phạm Thị Diệu Y chịu trách nhiệm nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp trước đây tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007031 ngày 04 tháng 11 năm 2020. Chị Y đã nộp đủ tiền án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND thị xã Ba Đồn; - Chi cục THADS thị xã Ba Đồn; - UBND xã Gio Sơn, tỉnh Quảng Trị (NĐKKH: 27/02/2017); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Xuân Hòa Hoàng Công Nghĩa Phan Anh Đức | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Anh Đức THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |