vanban.org

Bản án 04/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Thái Bình Tuyên án 29/01/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1, 3 Điều 228, điểm b khoản 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Vũ Văn D được ly hôn chị YCJ. Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình giữa anh D và chị Y"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1, 3 Điều 228, điểm b khoản 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2021/HNGĐ-ST
Ngày 29-01-2021
V/v Tranh chấp Hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Mạnh Cường.

2. Ông Trịnh Xuân Hảo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Sáng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 96/2019/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2019 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2020/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2020/QĐ-ST ngày 29 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Vũ Văn D - Sinh năm 1993.

Địa chỉ: Tổ X, phường HD, TPTB, tỉnh Thái Bình.

* Bị đơn:

Chị YCJ - Sinh năm 1996.

HKTT: Số Y CT, tổ Z, phường TA, thành phố ML, huyện ML, Đài Loan.

Địa chỉ hiện nay: Số A, NQ, tổ B, thôn QN, xã CQ, huyện MT, Đài Loan.

(Anh D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị YCJ vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn - Anh Vũ Văn D trình bày: Anh và chị YCJ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND TPTB, tỉnh Thái Bình ngày 25/10/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến ngày 22/02/2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân xuất phát từ việc vợ chồng ba lần phỏng vấn kết hôn ở Văn phòng kinh tế văn hóa Đài Bắc tại Hà Nội nhưng không được thông qua. Sau lần phỏng vấn lần thứ ba một thời gian vì công việc của cả hai quá bận nên anh và chị YCJ ít quan tâm, liên lạc với nhau. Đến ngày 28/4/2019, chị YCJ cắt mọi quan hệ và không cho anh biết thông tin, anh đã điện thoại nhờ bạn bè và mẹ anh đang lao động tại Đài Loan liên lạc với chị YCJ từ tháng 5/2019 đến nay nhưng không có kết quả. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị YCJ để anh có điều kiện tạo dựng cuộc sống mới.

Anh và chị YCJ không có con chung và tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, anh Vũ Văn D đã gửi trực tiếp các văn bản tố tụng cho bị đơn, đồng thời Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp tống đạt các văn bản cho chị YCJ và đăng tin thông báo thời gian tiến hành tố tụng cho chị YCJ trên sóng phát thanh và trang Web Vovworld.vn của Ban Đối ngoại (VOV5) Đài tiếng nói Việt Nam 03 lần trong 03 ngày liên tiếp nhưng chị YCJ không có ý kiến trả lời.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình kết luận quá trình thực hiện tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, đương sự đảm bảo đúng pháp luật và đề nghị:

- Về tố tụng: Tòa án đã thực hiện đúng thủ tục yêu cầu nguyên đơn gửi trực tiếp các văn bản tố tụng cho bị đơn, đồng thời tiến hành ủy thác tư pháp tống đạt các văn bản cho chị YCJ và đăng tin thông báo thời gian tiến hành tố tụng trên sóng phát thanh và trang Web Vovworld.vn của Ban Đối ngoại (VOV5) Đài tiếng nói Việt Nam 03 lần trong 03 ngày liên tiếp cho chị YCJ nhưng chị YCJ không có ý kiến trả lời. Như vậy, đủ căn cứ đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo điểm b khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

1. Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình: Xử cho anh Vũ Văn D được ly hôn chị YCJ.

2. Về quan hệ con chung và quan hệ tài sản: không đặt ra giải quyết.

3. Về án phí: Anh Vũ Văn D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Về tố tụng: Anh Vũ Văn D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị YCJ được tống đạt, triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228, điểm b khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

* Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Văn D và chị YCJ kết hôn hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân TPTB, tỉnh Thái Bình ngày 25/10/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Theo anh Vũ Văn D khai, đến tháng 02/2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ba lần phỏng vấn kết hôn ở Văn phòng kinh tế văn hóa Đài Bắc tại Hà Nội nhưng không được thông qua. Sau lần phỏng vấn thứ ba vợ chồng sống mỗi người một nơi, không quan tâm liên lạc với nhau. Quá trình giải quyết vụ án, anh D trực tiếp gửi văn bản và nhờ mẹ anh D (hiện đang lao động tại Đài Loan) gửi các văn bản của Tòa án cho chị YCJ, đồng thời Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp tống đạt các văn bản tố tụng và đăng tin thông báo cho chị YCJ trên sóng phát thanh và trang Web Vovworld.vn của Ban Đối ngoại (VOV5) Đài tiếng nói Việt Nam 03 lần trong 03 ngày liên tiếp nhưng chị YCJ không có ý kiến trả lời, thể hiện tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân giữa các đương sự không đạt được. Vì vậy, áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho anh Vũ Văn D được ly hôn chị YCJ là phù hợp pháp luật.

Về con chung: Anh Vũ Văn D và chị YCJ không có con chung nên không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Vũ Văn D khai vợ chồng không có tài sản chung, chị YCJ chưa có lời khai trình bày về tài sản và hiện tại vắng mặt nên Tòa án không xem xét. Khi nào các đương sự có yêu cầu giải quyết về tài sản chung sẽ khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.

Về án phí: Anh Vũ Văn D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1, 3 Điều 228, điểm b khoản 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Vũ Văn D được ly hôn chị YCJ.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Anh Vũ Văn D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng anh D nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 0009215 ngày 06/12/2019 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí.

Án xử công khai vắng mặt anh Vũ Văn D và chị YCJ. Anh Vũ Văn D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án. Chị YCJ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ