- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn do mâu thuẫn gia đình"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Cao Thanh Ph, ông Cao Thanh Ph được ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim S.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHÁNH VĨNH TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:04/2021/HNGĐ – ST Ngày: 27- 4 - 2021 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHÁNH VĨNH – TỈNH KHÁNH HÒA
- Th nh ph n H i đ n
h
c :
Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa: Ông Lê Xuân Thi
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hà Thị Phương Nga
2. Ông Nguyễn Thanh Cảnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khánh Vĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 98/2020/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2021/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Cao Thanh Ph, sinh năm 1991
Địa chỉ: Thôn Suối Cau, xã Khánh Đông, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
2. B đơn: Bà Nguyễn Thị Kim S, sinh năm 1991
Địa chỉ: Thôn Suối Cau, xã Khánh Đông, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/12/2020, lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Cao Thanh Ph trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị Kim S sống chung với nhau và đăng ký kết hôn tại UBND xã Khánh Đông, huyện Khánh Vĩnh năm 2017. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc và có 01 con chung là Cao Thành Nh, sinh ngày 19/9/2017. Thời gian sau vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, xảy ra tranh cãi, do bà S có quan hệ bất chính bên ngoài. Ông đã nhiều lần bỏ qua cho bà S cơ hội thay đổi để vợ chồng đoàn tụ nuôi dạy con nhưng bà Sang vẫn chứng nào tật đó, không sửa chữa, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, thực tế ông và bà S không còn sống chung từ giữa năm 2020 đến nay. nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim S. Về con chung, tôi đồng ý giao con chung cho bà Sang nuôi dưỡng và tôi cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ/tháng. Về tài sản chung, nợ chung ông Phi khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Kim S: Tòa án nhân dân huyện Khánh Vĩnh đã tiến hành thực hiện các thủ tục triệu tập, xác minh và niêm yết hợp lệ để lấy lời khai theo đúng quy định của pháp luật nhưng bà S cố tình trốn tránh không đến Tòa án để giải quyết và cũng không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của ông Cao Thanh Ph nên Tòa án đưa vụ án ra giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án là đúng theo quy định. Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Kim S đã được Tòa án triệu tập, xác minh, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông cố tình trốn tránh không có mặt tại tòa để làm việc nhằm bảo vệ quyền lợi cho mình. Do vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà S là đúng theo quy định của pháp luật.
Về thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án đến trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã thực hiện việc thu thập tài liệu chứng cứ theo quy định.
Về nội dung vụ án: Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn; Về con chung: Đề nghị HĐXX giao con chung Cao Thành Nh, sinh ngày 19/9/2017 cho bà Nguyễn Thị Kim S trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; Về tài sản chung, nợ chung: Ông Cao Thanh Ph khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; Về án phí đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn bà Nguyễn Thị Kim S đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt; Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết tại địa phương và nơi cư trú nên Tòa án nhân dân huyện Khánh Vĩnh tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng với quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Ông Cao Thanh Ph và bà Nguyễn Thị Kim S tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Khánh Đông, huyện Khánh Vĩnh năm 2017 và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 19 ngày 28/7/2017. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa ông Ph và bà S là hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, giữa ông Phi và bà S thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm dẫn đến tranh cãi. Do bà S có quan hệ bất chính với người khác, ông đã nhiều lần bỏ qua để vợ chồng đoàn tụ nuôi dạy con nhưng bà vẫn không thay đổi nên mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Theo kết quả xác minh tại địa phương thì trên thực tế ông Ph và bà S không còn sống chung với nhau từ giữa năm 2020 đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy, xuất phát từ những bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng làm rạn nứt tình cảm, việc quan tâm, chăm sóc lẫn nhau không còn và đã đến mức trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, thực tế hai ông bà cũng không còn sống chung từ giữa năm 2020 cho đến nay. Vì vậy, có duy trì quan hệ hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai và mục đích của hôn nhân cũng không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Cao Thanh Ph đối với bà Nguyễn Thị Kim S.
Về con chung: Ông Cao Thanh Ph và bà Nguyễn Thị Kim S có 01 con chung tên Cao Thành Nh, sinh ngày 19/9/2017. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Cao Thanh Ph đồng ý giao con chung cho bà S nuôi dưỡng và ông Ph cấp nuôi con chung 1.000.000đ/tháng đến khi cháu Nh đủ 18 tuổi. Kể từ thời điểm ông Ph và bà S không còn sống chung, cháu Nh đang do bà S trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, sau khi ly hôn việc giao con chưa thành niên cho người nào nuôi dưỡng, giáo dục là nhằm mục đích giúp con chưa thành niên phát triển tốt cả về tinh thần lẫn thể chất, xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chung, theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Cao Thành Nh, sinh ngày 19/9/2017 cho bà Nguyễn Thị Kim S trực tiếp nuôi dưỡng, ông Ph cấp nuôi con chung 1.000.000đ/tháng đến khi cháu Nhân đủ 18 tuổi. Trong quá trình nuôi con nếu gặp khó khăn bà S có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con để đảm bảo quyền lợi cho con chung.
Về tài sản chung: Ông Cao Thanh Ph khai ông và bà Nguyễn Thị Kim S không có tài sản chung nên HĐXX không xét.
Về nợ chung: Ông Cao Thanh Ph khai ông và bà Nguyễn Thị Kim S không có nợ chung nên HĐXX không xét.
Về án phí: Ông Cao Thanh Ph phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Cao Thanh Ph, ông Cao Thanh Ph được ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim S.
2. Về con chung: Giao con chung Cao Thành Nh, sinh ngày 19/9/2017 cho bà Nguyễn Thị Kim S trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.
Ông Cao Thanh Ph cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Cao Thành Nh sinh ngày 19/9/2017 với số tiền 1.000.000đ/tháng cho đến khi cháu Nh đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 5/2021.
Sau khi ly hôn vì quyền lợi của con, các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con; người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
3. Về án phí: Ông Cao Thanh Ph phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con chung nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tại biên lai số AA/2016/0004958 ngày 04 tháng 12 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Khánh Vĩnh. Như vậy, ông Ph còn phải nộp 300.000đ án phi cấp dưỡng nuôi con chung.
Quy định:
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu bên phải thi hành án chậm trả tiền thì còn phải trả thêm tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Ông Cao Thanh Ph có quyền kháng cáo bản án yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị Kim S vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ N i nhận:
| - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa - VKSND huyện Khánh Vĩnh; - Chi cục THADS huyện Khánh Vĩnh; - UBND xã Khánh Đông (Giấy CNKH số 19, ngày 28/7/2017); - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Xuân Thi |