vanban.org

Bản án 04/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với ông Trần Văn K.

Buộc ông Trần Văn K phải trả cho ông Nguyễn Văn H số tiền gốc 166.000.000 đồng và lãi suất 10.976.000 đồng. Tổng cộng 176.976.000 (một trăm bảy mươi sáu triệu chín trăm bảy mươi sáu nghìn) đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho ngư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Huu - Khiem"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với ông Trần Văn K.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 463 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2021/DS-ST.
Ngày 05-02-2021.
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Trưởng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Cao Hoài Hiêm;

Ông Ngô Minh Lý.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Hữu Tuấn là Thư ký Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thướng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 128/2020/TLST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2020 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2020/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1978; địa chỉ cư trú: Tổ 33, Ấp 3, xã Bàu Đồn, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đặng Tấn L, sinh năm 1975; địa chỉ cư trú: Ấp Bến Mương, xã Thạnh Đức, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh là đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 18/6/2020); vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Trần Văn K, sinh năm 1977; địa chỉ cư trú: Ấp Bến Kinh, xã Đôn Thuận, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 18 tháng 6 năm 2020, nguyên đơn ông Nguyên Văn H và các lời khai tại Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, đại diện hợp pháp nguyên đơn ông Đặng Tấn L trình bày:

Vào ngày 17/11/2019, ông H cho ông K vay số tiền 166.000.000 đồng, không tính lãi suất, thỏa thuận thời hạn trả vào ngày 05/6/2020. Khi cho vay có lập giấy tay. Đến hạn trả, ông H đòi nhiều lần nhưng ông K không trả tiền.

Nay ông H yêu cầu một mình ông K trả nợ gốc 166.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi suất chậm trả từ ngày 06/6/2020 đến nay với lãi suất 0,83%/tháng.

Trong các lời khai, bị đơn ông Trần Văn K trình bày:

Ông thừa nhận có nợ ông H số tiền 166.000.000 đồng, ông có viết và ký tên vào giấy mượn tiền ngày 17/11/2019 và hiện ông chưa trả tiền cho ông H. Tuy nhiên, số tiền trên là tiền ông nợ ông H do làm ăn thua lỗ mà không phải tiền vay.

Nay ông K đồng ý trả tiền cho ông H số tiền 166.000.000 đồng và không đồng ý trả tiền lãi suất.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:

Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn thực hiện chưa đầy đủ về quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đại diện hợp pháp của nguyên đơn vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án là phù hợp theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ vay gốc 166.000.000 đồng. Bị đơn thừa nhận có nợ nguyên đơn số tiền 166.000.000 đồng nhưng không phải tiền vay mà là tiền nợ do mua bán với nguyên đơn. Nguyên đơn đưa ra chứng cứ là một giấy mượn tiền ngày 17/11/2019 có chữ viết và chữ ký của ông K. Ông K thừa nhận có viết và ký tên vào giấy mượn tiền do nguyên đơn cung cấp nhưng nội dung khi viết giấy do ông đang thiếu nợ nên ông H yêu cầu ông viết như thế nào thì ông viết như thế đó. Ngoài ra ông K không đưa ra được chứng cứ nào khác. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy bị đơn có vay tiền của nguyên đơn số tiền gốc 166.000.000 đồng là thực tế có xảy ra.

Xét yêu cầu tính lãi suất của nguyên đơn: Hội đồng xét xử xét thấy hợp đồng vay tiền không tính lãi suất, có thỏa thuận thời hạn trả vào ngày 05/6/2020. Đến hạn bên bị đơn không trả, nay nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất chậm trả từ ngày 06/6/2020 đến nay với lãi suất 0,83%/tháng là phù hợp với khoản 4 Điều 466 của Bộ luật Dân sự nên có căn cứ chấp nhận. Từ ngày 06/6/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm là 07 tháng 29 ngày, nên tiền lãi suất là 166.000.000 đồng x 0,83%/ tháng x 07 tháng 29 ngày = 10.976.000 đồng (làm tròn số).

Như phân tích nêu trên có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả số tiền vay gốc 166.000.000 đồng và lãi 10.976.000 đồng. Tổng cộng 176.976.000 đồng theo quy định của pháp luật tại Điều 463 Bộ luật Dân sự.

Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với ông Trần Văn K.

Buộc ông Trần Văn K phải trả cho ông Nguyễn Văn H số tiền gốc 166.000.000 đồng và lãi suất 10.976.000 đồng. Tổng cộng 176.976.000 (một trăm bảy mươi sáu triệu chín trăm bảy mươi sáu nghìn) đồng.

2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Án phí: Ông Trần Văn K phải chịu 8.848.000 (tám triệu tám trăm bốn mươi tám nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn H số tiền 4.167.000 (bốn triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền số 0018322 ngày 25/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng.

4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ