vanban.org

Bản án 04/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau Tuyên án 12/01/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A - chi nhánh C. Buộc ông Huỳnh Văn Hanh trả cho Ngân hàng A - chi nhánh C số tiền là 5.

Kể từ ngày 13/01/2021, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi và tiền lãi quá hạn của số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng cho vay các bên có thỏa thuận về lãi suất cho v…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A - chi nhánh C. Buộc ông Huỳnh Văn Hanh trả cho Ngân hàng A - chi nhánh C số tiền là 5.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2021/DS-ST
Ngày: 12 - 01 - 2021
V/v Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phước.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Hoàng Giang.

Ông Vũ Minh Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 12 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 564/2020/TLST-DS, ngày 19 tháng 10 năm 2020, về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 425/2020/QĐXXST-DS, ngày 11 tháng 12 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng A.

Địa chỉ: Số xxx, đường P, Quận P, Thành phố H.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh T, Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Ngô Hồng N, Nhân viên phát triển kinh doanh thuộc Ngân hàng A - chi nhánh C (Quyết định ủy quyền số 44/QĐ-CMU ngày 14/8/2020) (có mặt).

- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1982 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp Đ, xã P, huyện P, tỉnh C.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Công Q (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp V, xã P, huyện P, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 14/8/2020 cùng các văn bản khác kèm theo, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ông Huỳnh Văn Hanh có quan hệ tín dụng với Ngân hàng Ngân hàng A - chi nhánh C gọi tắt là A Bank), chi tiết như sau:

Tổng hạn mức cấp tín dụng: 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) chi tiết bao gồm những khoản như sau: khoản cấp tín dụng vay tiêu dùng trả góp dành cho cán bộ nhân viên theo Hợp đồng vay số 0133920701T15003 ký ngày 19/11/2015, số tiền vay là 20.000.000 đồng, lãi suất 9%/năm, thời hạn vay 24 tháng, mục đích vay tiêu dùng. Hình thức bảo đảm nợ vay là tín chấp không tài sản bảo đảm. Bên bảo lãnh là Ủy ban nhân dân xã P, đại diện ký bảo lãnh là ông Lê Công Q - Chủ tịch.

Trong quá trình vay, ông Huỳnh Văn H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ không thanh toán nợ, lãi đúng quy định. Tính đến ngày 12/01/2021, ông Huỳnh Văn H còn nợ Ngân hàng A - chi nhánh C số tiền cụ thể là 5.809.797 đồng. Trong đó: Vốn còn lại là 2.696.100 đồng, lãi còn lại trong hạn là 689.548 đồng, tiền quá hạn là 2.424.149 đồng. Số tiền đã thanh toán từ ngày vay đến nay là 20.209.342 đồng.

Mặc dù đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho ông Huỳnh Văn H thanh toán nhưng cho đến nay ông Huỳnh Văn H vẫn không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, cố tình không thanh toán.

Xét thấy, ông Huỳnh Văn H đã vi phạm khế ước nhận nợ và không có thiện chí trả nợ, Ngân hàng A - chi nhánh C yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Huỳnh Văn H trả toàn bộ dư nợ và lãi phạt phát sinh đến ngày tất toán xong khoản tiền.

Ông Huỳnh Văn H, ông Lê Công Q nhiều lần vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì về nội dung khởi kiện của Ngân hàng A - chi nhánh C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng: Ngân hàng A - chi nhánh C khởi kiện ông Huỳnh Văn H yêu cầu trả tiền vốn vay và lãi còn nợ nên đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền của Tòa án.

Ông Huỳnh Văn H, ông Lê Công Q được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với ông Huỳnh Văn H và ông Lê Công Q.

[2]. Xét về nội dung: Tại Hợp đồng vay số 0133920701T15003 ký ngày 19/11/2015 thì ông Huỳnh Văn H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ vay, khoản vay đã phát sinh nợ quá hạn thanh toán. Hợp đồng nêu trên được thực hiện đúng quy định của pháp luật, nên được công nhận. Trong quá trình vay vốn, ông Huỳnh Văn H không thực hiện việc trả vốn và lãi theo thỏa thuận nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng đã ký kết. Quá trình vay tín chấp, ông Lê Công Q thời điểm đó là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã nên ông Lê Công Q có ký bảo lãnh. Do đó ông Huỳnh Văn H phải chịu trách nhiệm trả toàn bộ vốn vay và lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký kết tính đến hết ngày 12/01/2021 là 5.809.797 đồng. Trong đó: Vốn còn lại là 2.696.100 đồng, lãi còn lại trong hạn là 689.548 đồng, tiền quá hạn là 2.424.149 đồng và lãi suất phát sinh theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng tính đến thời điểm trả dứt nợ là có căn cứ để chấp nhận toàn bộ.

[3]. Ngân hàng yêu cầu ông Huỳnh Văn H trả lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ gốc. Căn cứ vào Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán TANDTC thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao thì ông Huỳnh Văn H có trách nhiệm trả lãi phát sinh theo hợp đồng giữa các bên đã ký kết kể từ ngày 13/01/2021 cho đến khi trả hết nợ gốc là phù hợp.

[4]. Ông Huỳnh Văn H, ông Lê Công Q đã được triệu tập tham gia tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, đồng thời không cung cấp lời khai chứng cứ để Tòa án xem xét.

[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ngân hàng hàng A - chi nhánh C không phải chịu, đối với số tiền Ngân hàng A - chi nhánh C đã nộp tạm ứng được nhận lại toàn bộ. Ông Huỳnh Văn H phải chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; Áp dụng các điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; Án lệ số 08/2016/AL được công bố theo quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A - chi nhánh C. Buộc ông Huỳnh Văn Hanh trả cho Ngân hàng A - chi nhánh C số tiền là 5.809.797 đồng. Trong đó: Vốn còn lại là 2.696.100 đồng, lãi còn lại trong hạn là 689.548 đồng, tiền quá hạn là 2.424.149 đồng.

Kể từ ngày 13/01/2021, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi và tiền lãi quá hạn của số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng cho vay các bên có thỏa thuận về lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng vay theo quyết định của Tòa án cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Buộc ông Huỳnh Văn H phải chịu 300.000 đồng. Ngân hàng A - chi nhánh C được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã dự nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012088 ngày 19/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ