- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2021/DS - ST Ngày: 12- 01 - 2021 V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ - TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Tú
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Thanh Khen
2. Ông Trần Văn Hưng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ.
Ngày 12 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 187/2020/TLST - DS ngày 14 tháng 10 năm 2010 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2020/QĐXXST - DS ngày 04 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCPSGTT
Địa chỉ: Số 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường A, quận B, Thành Phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng TMCPSGTT: Chị Đặng Huỳnh N
- Chức vụ: Phó phòng cá nhân - Ngân hàng TMCPSGTT – Chi nhánh Vĩnh Long. (Theo giấy ủy quyển số 23/2020/UQ-CNVL ngày 03/8/2020). (Có mặt).
2. Bị đơn: Anh Lê Quốc T, sinh năm 1995 (Vắng mặt).
Trú tại: Số 06/28 ấp TB, xã TH, huyện LH, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 03/8/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Anh Lê Quốc T có ký giấy hợp đồng tín dụng số LD1809200664 vào ngày 02/4/2018 với Ngân hàng TMCPSGTT vay số tiền là 20.000.000đồng
Mục đích vay tiêu dùng
Thời hạn vay: 24 tháng
Lãi suất trong hạn 1,6%/tháng, lãi quá hạn là 2,4%/tháng
Phương thức trả nợ: Vốn và lãi trả định kỳ hàng tháng, mỗi kỳ trả 1.233.000đồng, kỳ cuối trả là 1.241.000đồng,
Hình thức cho vay : Tín chấp không tài sản đảm bảo
Thời điểm trả hết nợ là ngày 22/6/2020
Căn cứ vào hợp đồng tín dụng Ngân hàng đã giải ngân một lần cho anh T số tiền là 20.000.000đồng theo giấy nhận nợ ngày 02/4/2018.
Từ khi giải ngân cho đến nay anh T đã thanh toán cho Ngân hàng 13 kỳ, kỳ cuối cùng trả vào ngày 13/4/2019, số tiền đã trả tổng cộng gốc là 11.156.000đồng, lãi là 3.895.877đồng. Tổng cộng gốc và lãi anh T đã trả là 15.051.877đồng.
Sau đó thì anh T không thanh toán khoản nào khác cho Ngân hàng, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhỡ nhưng anh T vẫn không thanh toán
Do anh T vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến ngày 13/5/2019 Ngân hàng chuyển toàn bộ số dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Số tiền anh T còn nợ Ngân hàng đến ngày 12/01/2021 tổng cộng là : 15.029.227đồng
Trong đó: Tiền gốc: 8.844.000đồng
Lãi trong hạn: 3.839.223đồng
Lãi quá hạn: 3.176.371đồng
Nay, Ngân hàng TMCPSGTT yêu cầu anh Lê Quốc T trả số tiền gốc là 8.844.000đồng và tiền lãi tính đến ngày 12/01/2021 là 7.015594đồng. Tổng cộng tiền vốn và lãi là 15.859.594đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh theo hợp đồng cho đến khi trả hết nợ
- Bị đơn anh Lê Quốc T không có văn bản nêu ý kiến gì về yêu cầu của phía nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án Dân sự về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng. Bị đơn là anh Lê Quốc T có địa chỉ cư trú tại xã Tân Hạnh, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng: Anh Lê Quốc T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T.
Về nội dung vụ án:
Xét, yêu cầu của Ngân hàng TMCPSGTT yêu cầu anh Lê Quốc T phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCPSGTT toàn bộ số nợ vay tính đến ngày xét xử sơ thẩm 12/01/2021 gồm tiền gốc: 8.844.000đồng, lãi trong hạn: 3.839.223đồng, lãi quá hạn: 3.176.371đồng là có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ: theo chứng cứ là giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số LD1809200664 vào ngày 02/4/2018 mà phía Ngân hàng cung cấp cho Tòa án thể hiện anh T đã được Ngân hàng cho vay số tiền 20.000.000đ. Ngân hàng cũng thừa nhận anh T đã trả số tiền gốc và lãi 15.051.877đồng, còn nợ lại số tiền gốc và lãi tính đến ngày 12/01/2021 là 15.859.594đồng. Do đó, Hội đồng xét xử buộc anh Lê Quốc T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCPSGTT tính đến ngày xét xử sơ 12/01/2021 gồm tiền gốc chưa thanh toán là: 8.844.000đồng, lãi trong hạn: 3.839.223đồng, lãi quá hạn: 3.176.371đồng.
Xét, yêu cầu của Ngân hàng TMCPSGTT yêu cầu anh T phải tiếp tục trả lãi phát sinh tính trên số nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng kể từ ngày 13/01/2021 cho đến khi anh T thanh toán xong phần nợ cho Ngân hàng là có cơ sở chấp nhận, vì lẽ, yêu cầu tính lãi suất chậm trả của Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín cũng phù hợp với quy định tại Án lệ số 08/2016/AL, được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Tại án lệ 08/2016/AL quy định “Đối với các khoản tiền vay của tổ chức Ngân hàng, tín dụng, ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn, phí mà khách hàng vay phải thanh toán cho bên cho vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm, thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này”. Do đó, Hội đồng xét xử buộc anh Lê Quốc T phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày 13/01/2021 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
Về án phí: Buộc bị đơn anh Lê Quốc T phải chịu tiền án phí theo quy định pháp luật là 793.000đồng
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147, 227 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thương vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào Án lệ số 08/2016/AL, được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Buộc anh Lê Quốc T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCPSGTT tính đến ngày xét xử sơ thẩm 12/01/2021 số tiền nợ gốc chưa thanh toán là: 8.844.000đồng, lãi trong hạn: 3.839.223đồng, lãi quá hạn: 3.176.371đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 15.859.594đ (Mười lăm triệu, tám trăm năm mươi chín nghìn, năm trăm chín mươi bốn đồng) .
- Buộc anh Lê Quốc T phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày 13/01/2021 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này cho Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh Lê Quốc T phải chịu tiền án phí theo quy định pháp luật là 793.000đ (Bảy trăm chín mươi ba nghìn đồng)
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCPSGTT số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 368.000đ (Ba trăm sáu mươi tám nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006123 ngày 14/10/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Quốc T vắng mặt được quyền kháng cáo bản trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ; - Chi cục THADS huyện Long Hồ; - Các đương sự; - Lưu VP, HS./. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Thị Ngọc Tú |