vanban.org

Bản án 04/2021/DS-ST — Tranh chấp đất đai

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi ki n của b Nguy n Thị Lê:

Buộc b Nguy n Thị H, ông Nguy n Văn B phải trả cho b Nguy n Thị L 0,8 m2 đất có vị trí theo các mốc M13, M12, M9 tại mảnh trích đo địa Ch số 738-2021 đo đạc theo quyết định xem xét thẩm định tại chỗ số 04/2021/QĐ của Tòa án nhân dân huy n Đi n Biên, địa chỉ phần đất tại thôn 9, xã Pom Lót, huy n Đi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Nguyễn Thị Lê, nguyễn Thị Hón tranh chấp đất đai"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi ki n của b Nguy n Thị Lê:
  • Căn cứ chính? Điều 157 Bộ Luật tố tụng dân sự các đương sự phải chịu chi phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 202 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUY N ĐI N BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 04/2021/DS - ST
Ngày: 20 - 9 - 2021
V/v: Tranh chấp đất đai, yêu cầu
tháo dỡ công trình xây dựng
trên đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VI T NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUY N ĐI N BIÊN, TỈNH ĐI N BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Nguy n Thanh Ng c

Các Hội thẩm nhân dân: B Nguy n Thị Tâm v ông Nguy n Quang Khải

- Thư ký phiên tòa: Ông Lường Văn Đoản, là Thư ký Tòa án nhân dân huy n

Đi n Biên, tỉnh Đi n Biên;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên,Tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: ng Đỗ Th nh Đạt – Ki m sát viên.

Trong các ngày 17, 20 tháng 9 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huy n Đi n Biên, tỉnh Đi n Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 35/2019/TLST-DS ngày 24 tháng 9 năm 2019 về vi c: Tranh chấp đất đai, yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2021/QĐXXST-DSST ngày 23 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: B Nguy n Thị L, sinh năm: 1963.

Nơi ĐKNKTT: Thôn 5, xã P, huy n Đ, tỉnh Đi n Biên.

Chỗ ở: Thôn 9, xã P, huy n Đ, tỉnh Đi n Biên. (Có mặt)

- Bị đơn: B Nguy n Thị H, sinh năm: 1968.

Nơi ĐKNKTT: Thôn 2, xã P, huy n Đ, tỉnh Đi n Biên.

Chỗ ở: Thôn 9, xã P, huy n Đ, tỉnh Đi n Biên. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguy n Văn B

Nơi ĐKNKTT: Thôn 2, xã P, huy n Đ, tỉnh Đi n Biên.

Chỗ ở: Thôn 9, xã P, huy n Đ, tỉnh Đi n Biên. (Có mặt)

- Những người l m chứng:

1. ng Trần Đăng Nh

Địa chỉ: Thôn 5, xã P, huy n Đ, tỉnh Đi n Biên. (Vắng mặt)

2. Chị Nguy n Thị L

Địa chỉ: Thôn L, xã V, huy n S, th nh phố H Nội. (Vắng mặt)

3. ng Đặng Đình S

Địa chỉ: Thôn 9, xã P, huy n Đ, tỉnh Đi n Biên. (Có mặt)

4. ng Tống Văn Ch

Địa chỉ: Thôn 9, xã P, huy n Đ, tỉnh Đi n Biên. (Vắng mặt)

5. Bà Đỗ Thị G

Địa chỉ: Thôn 9, xã P, huy n Đ, tỉnh Đi n Biên. (Có mặt)

6. ng Trần Mạnh Đ

Địa chỉ: Thôn 5, xã P, huy n Đ, tỉnh Đi n Biên. (Vắng mặt)

7. B Nguy n Thị L1

Địa chỉ: Thôn 5, xã P, huy n Đ, tỉnh Đi n Biên. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:

Năm 1989 bà L có l m đơn xin cấp đất nộp ra xã, năm 1992 bà L được UBND xã Sam Mứn (nay l Pom Lót) chia cho phần đất thuộc thôn 9, xã Pom Lót, huy n Đi n Biên, tỉnh Đi n Biên hi n nay đ ở v trồng tr t. Khi xã chia đất cho thì không l m biên bản, giấy tờ gì, chỉ nghe cán bộ xã xuống giao đất chỉ giao bằng mi ng v chỉ các mốc cho. Cũng không nói rõ di n tích l bao nhiêu chỉ nói l ở đây khoảng 1000 m2 chia cho hai nhà bà L và ông Đ. Mảnh đất bà L được cấp giáp ba nh , một bên l đất nh Khánh S (nay nh Hiền Đo i), một bên l đất nhà ông Nguy n Mạnh Đ, phía sau là giáp nhà ông bà Ch G. Khi b được chia đất thì có nh ông Tống Văn Ch v b Nguy n Thị G cư trú ở đó từ trước, b H về ở sau bà L, bà H về ở khi n o b L không biết. Đất b H một phần mua của nh L S, một phần l đất ruộng cấy nh ông Ch được xã lấy lại chia cho nên đất của b H mới giáp đất phía sau bà Lê. Sau khi được giao đất b L đã trồng cây Vông tại các góc ranh giới đất của b . Cây Vông phía nhà ông Ch l mốc ranh giới đất giữa ba nh : ông Ch, bà L, bà H. Khi nhà ông Ch xây tường r o thì ông Ch có g i b L ra, chặt cây vông v xây tường r o v o vị trí cây Vông. Đi m gấp khúc của tường r o (vị trí cây Vông cũ) l mốc giới chung giữa ba nh . Cây Vông phía nh ông Đ l mốc ranh giới đất giữa ba nh : b L, bà H, ông Đ. Khi ông Đ xây tường r o thì vẫn còn. Đến năm 2016 thì gia đình b H đã đ o cây Vông đi, khi đó b L không ý kiến gì vì lúc ấy giữa hai nh vẫn l h ng rậu rách l m ranh giới. Năm 2017, thì b L có mang lưới B40 r o tạm v o phần rậu rách. Năm 2019 b H l m nh thì chặt phá h ng rậu của b L, l m đổ lưới B40, b L đã đem lưới về. Khi xây nh b H đã lấn sang phần đất của gia đình bà L cách vị trí cây vông trước kia l mốc giới giữa ba nh , b L, bà H, ông Ch (bây giờ l đi m gấp khúc tường nh ông Ch) là 60 cm. Cách vị trí cây vông l mốc tiếp giáp giữa ba nh : bà H, bà L, ông Đ trước kia l 40 cm. Khi bà H đ o móng b đã bảo l l m sang đất nh b , nhưng b H không nghe vẫn tiếp tục l m, khi đó b mải vi c lo cưới cho con nên không ý kiến gì nữa vẫn đ cho b H l m. Về sau n y b mới yêu cầu xã xem xét giải quyết tranh chấp cho b , rồi khởi ki n ra Tòa án. Quá trình thụ L, sau khi tiến h nh xem xét thẩm định tại chỗ v xem xét thẩm định tại chỗ bổ sung. Bà L xác định không tranh chấp mốc giới tiếp giáp giữa ba nh b H, bà L, ông Đ, chỉ còn tranh chấp phần di n tích do không thống nhất được mốc giới phía giữa ba nh b L, bà H, ông Ch, tổng di n tích n y khi đo đạc lại l 3,3 m2. Do vậy b L thay đổi yêu cầu khởi ki n buộc gia đình bà H trả lại phần di n tích từ 04 m2 xuống còn là 3,3 m2 và tháo dỡ đoạn tường nh xây trên di n tích đất này. Về giá trị của phần đất tranh chấp này bà L cho rằng có giá thị trường l 3 tri u đồng / 01 mét vuông.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà H mua phần di n tích đất đang ở l của ông Đặng Đình S ở thôn 9, xã P, huy n Đ, tỉnh Đi n Biên v o năm 1988, khi mua các bên không l m giấy tờ gì, chỉ nói bằng mi ng, giá mua khi đó l 35.000 đồng v 01 con lợn. Khi mua bán hai bên có chỉ mốc giới với nhau, cũng không đo đạc xác định di n tích cụ th gì. Khi chỉ mốc cũng không g i các chủ đất xung quanh xác định. Khi mua thì đất của bà giáp một bên là nhà ông bà Ch G, phía bà L chưa có ai. B có trồng h nh dậu rách phía nhà bà L bây giờ. Năm 1989 thì b H ra làm nh đ ở, khi đó cũng chưa có nh b Lê. Năm 1994, 1995 thì mới thấy b L về ở. Năm 1997 có xây chuồng lợn, hố phân ở ngay gần hàng dậu rách l ranh giới hai nh . Hai nh vẫn ở không có tranh chấp gì với nhau. Đến năm 2019 b H chặt dậu rách l m nh thì mới phát sinh tranh chấp. Khi đ o móng l m nh thì b L bảo l đã l m sang đất b L, khi đó b H bảo l chỉ l m trên đất của mình. Thấy b L không ý kiến gì nữa nên b H vẫn xây trên di n tích đất đó vì b H cho rằng đó l đất của b . Phía dưới móng nh b thuộc phần đất tranh chấp vẫn có tường của hố phân nh b xây như hôm xem xét thẩm định bổ xung đã ghi nhận. Bà H nhất trí giá thị trường đối với phần đát tranh chấp l 3 tri u đồng một mét vuông.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn B trình bày:

ng về ở với b H tại di n tích đất đang có tranh chấp n y từ năm 1990, khi dó có h ng dậu găng, không thấy có cây Vông n o, khi đó chưa thấy nh b L về ở. Năm 1994 thì bà L mới về ở. Năm 1997 gia đình ông có xây chuồng lợn v hố phân d c theo h ng dậu l ranh giới đất có cách h nh dậu đó một đoạn, hi n vẫn còn tường hố phân như hôm xem xét thẩm định đã thấy. Ông B nhất trí giá thị trường đối với phần đất tranh chấp l 3 tri u đồng một mét vuông.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa:

- Vi c tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án cơ bản đảm bảo đúng qui định; Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cơ bản thực hi n đúng quyền v nghĩa vụ của mình theo qui định tại Điều 70, 71, 72, 73 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan đi m giải quyết đối với yêu cầu khởi ki n của bà Nguy n Thị L về vi c buộc gia đình b Nguy n Thị H trả lại 3,3 m2 đất tại thôn 9, xã P, huy n Đ, tỉnh Đi n Biên. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 202, điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35 v đi m a, c khoản 1 Điều 39, khoản 1 điều 147, khoản 1 điều 157, điều 271, khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự; Các khoản 1, 4 điều 26, các đi m a khoản 2 điều 27 Nghị quyết số 326/ 2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản L v sử dụng án phí v l phí Tòa án giải quyết vụ án theo hướng như sau:

+ Chấp nhận một phần yêu cầu của b Nguy n Thị L: Buộc b Nguy n Thị H, ông Nguy n Văn B phải trả cho b Nguy n Thị L 0,8 m2 đất tại thôn 9, xã Pom Lót, huy n Đi n Biên, tỉnh Đi n Biên; Buộc b Nguy n Thị H, ông Nguy n Văn B phải trả cho b Nguy n Thị L 3.750.000 đồng l giá trị quyền sử dụng 1,25 m2 đất; Giao cho b Nguy n Thị H, ông Nguy n Văn B được quyền quản L sử dụng 2,5 m2 đất tại thôn 9, xã Pom Lót, huy n Đi n Biên, tỉnh Đi n Biên.

+ Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi ki n của b Nguy n Thị L về vi c yêu cầu b Nguy n Thị H, ông Nguy n Văn B trả lại 1,25 m2 đất tại đội 9, xã Pom Lót, huy n Đi n Biên, tỉnh Đi n Biên v yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất.

+ Buộc b L phải chịu án phí đối với phần yêu cầu không được chấp nhận; Buộc b H, ông B chịu án phí đối với phần yêu cầu của b L được chấp nhận; các bên phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo qui định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về thủ tục thụ L êu c u khởi kiện của ngu ên đơn:

Ngày 24/9/2019 bà L nộp đơn khởi ki n đối với b Nguy n Thị H có địa chỉ thôn 9, xã Pom Lót, huy n Đi n Biên, tỉnh Đi n Biên về vi c Tranh chấp đất đai, yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất. Kèm theo đơn khởi ki n b L đã nộp các t i li u chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, đồng thời có các t i li u th hi n vi c tranh chấp đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã P đúng qui định về trình tự, thủ tục v thẩm quyền nhưng không th nh. Bà L có đơn xin mi n nộp tạm ứng án phí nộp kèm giấy chứng nhận hộ nghèo, cận nghèo. Ngày 24/9/2019 Tòa án đã chấp nhận cho mi n nộp tạp ứng án phí đã thụ L vụ án đ giải quyết yêu cầu khởi ki n của bà L theo Điều 195 BLTTDS.

- Về thẩm qu ền giải qu ết: Yêu cầu của bà L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huy n Đi n Biên, tỉnh Đi n Biên theo quy định tại khoản 9 Điều 26, đi m a khoản 1 Điều 35 v đi m c khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

[2] Về yêu cầu khởi kiện:

Xét êu c u khởi kiện của bà Ngu ễn Thị L buộc gia đ nh bà Ngu ễn Thị H, ông Ngu ễn Văn B giao trả ph n diện t ch đ t đang tranh ch p 3,3 m2 t i thôn 9, Pom Lót hu ện iện iên t nh iện iên cho bà, buộc gia đ nh bà H tháo d các c ng tr nh là t ng nhà â trên diện t ch đ t này:

Hội đồng xét xử nhận thấy:

- Về nguồn gốc đất của hai hộ b L và bà H:

Nguồn gốc đất của hai hộ n y trước đây do dân khai hoang, sau đó do thôn đội v các hộ phân chia nhau. Thực hi n theo nghị định 64/CP ng y 27/9/1993 của Ch phủ. Ủy ban nhân dân xã Sam Mứn cũ tri n khai chương trình giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được qui chủ trong sổ mục kê năm 1996. Sau đó các hộ l m đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất v được xét duy t cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nội dung n y được UBND xã Pom Lót cung cấp tại biên bản xác minh ngày 23/7/2020.

- Về thời đi m sử dụng đất:

Bà L cho rằng b được xã chia cho từ năm 1992, tuy nhiên vi c chia đất bằng mi ng, không có văn bản gì. Bà L được gia đình ông Ch bà G xác nhận về ở trước b H nhưng cũng không rõ từ năm bao nhiêu. Bà L không xuất trình được t i li u gì về vi c sử dụng đất tại thời đi m đó.

Bà H cho rằng b mua đất của ông Đặng Đình S năm 1988, năm 1990 b Về ở trên đất đó. Tuy nhiên vi c mua bán cũng chỉ trao đổi bằng mi ng, không có giấy tờ gì. Ông S khai nhận có nhận tiền công khai hoang và giao bà H thửa đất trên nhưng không nhớ là vào năm bao nhiêu, chỉ nhớ khi đó chưa có b L về ở. Bà H cũng không xuất trình được t i li u chứng cứ gì chứng minh vi c gia đình b về đó ở từ năm 1990.

Bà L và bà H đều không có hộ khẩu thường trú hoặc đăng ký tạm trú tại Thôn 9, xã Pom Lót, huy n Đi n Biên, tỉnh Đi n Biên nên không có cơ sở xác định thời đi m về cư trú tại đó. Tòa án cũng đã yêu cầu UBND xã Pom Lót, Trung tâm quản L đất đai huy n Đi n Biên cung cấp hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các t i li u có liên quan của hai hộ b L, bà H cho Tòa án. Tuy nhiên qua các t i li u nhận được, các t i li u n y cũng chỉ th hi n được thời đi m sử dụng đất của b L, bà H là từ năm 1996, thời đi m trước đó không có t i li u n o th hi n.

- Về di n tích đất:

Bà L khai được xã giao đất nhưng không nêu rõ về di n tích, chỉ được nói mi ng khi được nhận l hai nh ông Đ và bà L chia nhau chung khoảng 1000 m2. Khi giao thì chỉ mốc giữa người giao với người được giao, không g i các bên tiếp giáp xác nhận mốc. Bà H khai mua đất của ông S nhưng cũng không cụ th về di n tích, cũng chỉ nhận mốc giới theo ông S đã chỉ m không được các bên tiếp giáp xác nhận. Cả hai bên bà L, bà H đều không chứng minh được số li u về di n tích đất thực tế đã được nhận. Hi n nay, theo đo đạc thực tế cả hai hộ b L, bà H đều có di n tích thực tế nhỏ hơn di n tích được ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp.

- Về quá trình sử dụng đất:

Đối với phần di n tích đất tranh chấp 3,3 m 2, Hội đồng xét xử thấy rằng, trong phần đất n y có một phần di n tích đất là 0,8 m2 hi n tại không có công trình trên đất và một phần 2,5 m2 hi n tại đang có tường nh b H trên đất.

Đối với phần di n tích 2,5 m2 đất các bên đương sự không chứng minh được thời đi m sử dụng đất, cả hai bà L, bà H khi nhận đất đều không có di n tích sơ đồ cụ th . Cả hai bên đều từng sử dụng phần di n tích đất n y. B L cho rằng khi nhận đất b đã trồng cây Vông lên trên phần đất đó, giáp ranh với nh ông b Ch G v trồng cây cối hoa m u trên đất. Ông Ch bà G xác nhận nội dung n y l đúng. Tuy nhiên, về phía nhà bà H, bà H cho rằng b có công trình l hố phân nằm dưới tường nh bà, hi n tường hố phân vẫn còn. Qua xem xét thẩm định tại chỗ Tòa án xác định có đoạn tường phía dưới tường nh b H l đúng. B L cho rằng trước đây nh b H có hố phân dưới phần đất của b H nhưng không phải ở vị trí đoạn tường buổi xem xét thẩm định đã tìm thấy. B L cho rằng đoạn tường trên l giả hi n trường, tường n y xây dựng khi nào thì b không biết. B cho rằng tường đó nh b H khi xây nh đã xây lên. Tuy nhiên, Tòa án đã giải thích về quyền yêu cầu giám định tuổi cũng như kết cấu công trình cho b L nhưng b L không yêu cầu giám định nên không có căn cứ bác bỏ lời trình b y của b H.

Đối với phần di n tích 0,8 m2, hi n không có công trình n o của b H trên đất đó, không có căn cứ xác định b H trước đây đã sử dụng phần đất n y.

Qua các phân tích ở trên, Hội đồng thấy rằng, cả nguyên đơn, bị đơn đều không đủ căn cứ chứng minh di n tích đất tranh chấp thuộc quyền sở hữu của mình, vì ngay khi được nhận đất, các bên đã không có căn cứ giao di n tích đất, vị trí thửa đất thực tế. Bản đồ giải thửa cũng được lập sau khi các bên đã về sử dụng đất. Trung tâm quản L đất đai cũng có công văn số 75/CV-TTQLDĐĐ ng y 21/4/2020 xác nhận: Không có cơ sở xác định vị trí, di n tích thửa đất đang tranh chấp thuộc vị trí n o trên bản đồ giải thửa. Nguyên nhân bản đồ giải thửa được đo ở 12 xã vùng lòng chảo nói chung v xã Pom Lót nói riêng được thực hi n từ trước năm 1995 bằng kỹ thuật thô sơ, có sai số lớn. Do vậy không đáp ứng được công vi c đòi hỏi sự Ch xác cao. Quá trình sử dụng đất b L có căn cứ xác định có sử dụng đối với 3,3 m2 đất đang tranh chấp th hi n qua vi c b có trồng cây Vông trên đất được ông b Ch G xác nhận, bà H cũng có căn cứ đã từng v hi n tại đang sử dụng một phần di n tích đất tranh chấp đó th hi n qua các công trình của b H là nhà đang ở trên v tường hố phân đang ở dưới phần di n tích 2,5 m2. Như vậy, Hội đồng xét xử thấy phần di n tích cả hai bên đã từng cùng sử dụng l 2,5 m2. Đối với phần di n tích 0,8 m2 có căn cứ chỉ do b L sử dụng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy quan đi m của đại di n Vi n ki m sát nhân dân huy n Đi n biên l có cơ sở, cần chấp nhận một phần yêu cầu của b L đối với phần di n tích đất 0,8 m2, buộc b H, ông B phải trả lại phần di n tích đất n y. Đối với phần di n tích đất 2,5 m2 do cả hai bên đều không chứng minh được thuộc phần đất của mình đã mua hay được giao, mặt khác cả b L, bà H đều đã từng sử dụng phần đất nêu trên nên đ đảm bảo lẽ công bằng cần phân chia cho mỗi bên 1/2 di n tích đất này. Tuy nhiên, nếu chia bằng hi n vật sẽ ảnh hưởng đến kết cấu công trình trên đất, ảnh hưởng đến lợi ích chung. Hơn nữa, thời đi m b H làm nhà bà L có ý kiến tranh chấp nhưng bà L lại không yêu cầu cơ quan nh nước có thẩm quyền đ giải quyết ngay vi c tranh chấp giữa hai bên. Dẫn đến vi c b H thấy rằng b L không ngăn cản tiếp vi c xây dựng nên đã tiếp tục xây dựng công trình kiên cố xây trên đất. Phần đất tranh chấp l đất nông nghi p có di n tích nhỏ so với tổng di n tích đất b L đang sử dụng, nếu không chia bằng hi n vật cũng không ảnh hưởng lớn đến vi c sinh sống, canh tác của b Lê. Vi c chia cho b L theo giá trị phần di n tích đất đang tranh chấp vẫn đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho b Lê. Do đó, hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận quan đi m giải quyết của Đại di n vi n ki m sát nhân dân huy n Đi n Biên, giao cho bà H, ông B sử dụng to n bộ di n tích đất n y nhưng phải thanh toán lại cho b L 1/2 giá trị quy n sử dụng phần đất nêu trên đ đảm bảo tránh thi t hại nhất về quyền lợi cho cả hai bên. Giá trị đất các bên đã thống nhất l 03 tri u đồng/01 m2 nên bà H, ông B phải trả cho b L là 3.000.000 đ* 2,5/2 = 3.750.000 đồng. Do giao phần di n tích đất tranh chấp có công trình trên đất cho b H, bà H có trách nhi m thanh toán lại giá trị một phần di n tích cho b L theo phân tích ở trên nên hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu tháo dỡ công trình trên đất của b Lê.

[3] Về án phí, tạm ứng án phí, chi phí tố tụng:

* Án phí: Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự v Các khoản 1, 4 điều 26, các đi m a khoản 2 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản L v sử dụng án phí v l phí Tòa án xác định nghĩa vụ chịu án phí như sau:

B Nguy n Thị L được chấp nhận một phần yêu cầu khởi ki n về vi c buộc bà H, ông B trả lại cho b 0,8 m2 đất buộc b H, ông B thanh toán bằng giá trị tương ứng 1,25 m2 đất l 3.750.000 đồng. Do phần yêu cầu n y của b L được chấp nhận nên bà H, ông B chịu án phí tính trên giá trị quyền sử dụng: 0,8 m2 + 1,25 m2 = 2,05 m2 đất. B H, ông B phải chịu 307.500 đồng án phí dân sự có giá ngạch.

Do tại thời đi m hi n nay b L không còn l cá nhân thuộc hộ nghèo hay cận nghèo nên bà L phải chịu tiền án phí theo qui định. B Nguy n Thị L phải chịu án phí trên phần yêu cầu không được chấp nhận tương ứng với giá trị quyền sử dụng 1,25 m2 đất v yêu cầu tháo dỡ công trình trên đất. B L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự có giá ngạch v 300.000 đồng án phí dân sự không có giá ngạch.

* Về chi phí tố tụng khác:

- Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Căn cứ khoản 1 điều 157 Bộ Luật tố tụng dân sự các đương sự phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ nếu yêu cầu của mình không được chấp nhận. Tổng chi phí thẩm định tại chỗ của vụ án l 9.098.000 đồng. Do đó, b Nguy n Thị L phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.446.200 đồng. Bà H, ông B phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.651.800 đồng. Bà L đã nộp tiền tạm ứng thẩm định tại chỗ l 4.678.000 đồng, B H, ông B đã nộp tiền tạm ứng thẩm định tại chỗ l 5.000.000 đồng. Như vậy b H, ông B phải trả lại cho bà L 651.800 đồng. Trả lại cho b L số tiền 580.000 đồng tạm ứng chi phí thẩm định tại chỗ đã nộp tại Tòa án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ v o điều 202, điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35 v đi m a, c khoản 1 Điều 39, khoản 1 điều 147, khoản 1 điều 157, điều 271, khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự; Các khoản 1, 4 điều 26, các đi m a khoản 2 điều 27 Nghị quyết số 326/ 2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản L v sử dụng án phí v l phí Tòa án; Tuyên xử:

1.Chấp nhận một phần yêu cầu khởi ki n của b Nguy n Thị Lê:

- Buộc b Nguy n Thị H, ông Nguy n Văn B phải trả cho b Nguy n Thị L 0,8 m2 đất có vị trí theo các mốc M13, M12, M9 tại mảnh trích đo địa Ch số 738-2021 đo đạc theo quyết định xem xét thẩm định tại chỗ số 04/2021/QĐ của Tòa án nhân dân huy n Đi n Biên, địa chỉ phần đất tại thôn 9, xã Pom Lót, huy n Đi n Biên, tỉnh Đi n Biên;

- Buộc b Nguy n Thị H, ông Nguy n Văn B phải trả cho b Nguy n Thị L 3.750.000 đồng l giá trị quyền sử dụng 1,25 m2 đất.

Giao cho b Nguy n Thị H, ông Nguy n Văn B được quyền quản L sử dụng 2,5 m2 đất có vị trí theo các mốc M13, M3, M9 tại mảnh trích đo địa Ch số 738-2021 đo đạc theo quyết định xem xét thẩm định tại chỗ số 04/2021/QĐ của Tòa án nhân dân huy n Đi n Biên, địa chỉ phần đất tại thôn 9, xã Pom Lót, huy n Đi n Biên, tỉnh Đi n Biên.

2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi ki n của b Nguy n Thị L về vi c yêu cầu b Nguy n Thị H, ông Nguy n Văn B trả lại 1,25 m2 đất tại đội 9, xã Pom Lót, huy n Đi n Biên, tỉnh Đi n Biên v yêu cầu buộc tháo dỡ công trình xây dựng trên đất.

3. Về án phí, chi phí tố tụng khác:

* Án phí:

- Bà Nguy n Thị H, ông Nguy n Văn B phải chịu 307.500 đ (Ba trăm linh bẩy nghìn, năm trăm đồng) án phí dân sự có giá ngạch.

- B Nguy n Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự có giá ngạch v 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự không có giá ngạch.

* Về chi phí tố tụng khác:

- Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Các đương sự phải chịu chi phí thẩm định tại chỗ của vụ án tổng cộng l 9.098.000 đồng. B Nguy n Thị L phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ l 3.446.200 đồng. B H, ông B phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chố l 5.651.800 đồng. B L đã nộp tiền tạm ứng thẩm định tại chỗ l 4.678.000 đồng. Bà H, ông B đã nộp tiền tạm ứng thẩm định tại chỗ l 5.000.000 đồng. Bà Nguy n Thị H, ông Nguy n Văn B còn phải trả lại cho b Nguy n Thị L 651.800 đ (Sáu trăm năm mươi mốt nghìn, tám trăm đồng). Trả lại cho b L số tiền 580.000 (Năm trăm tám mươi nghìn đồng) tạm ứng chi phí thẩm định tại chỗ đã nộp tại Tòa án.

4. K từ ng y người được thi h nh án (B Lê) có đơn yêu cầu thi h nh án nếu người phải thi h nh án ( Bà H, ông B) không tự nguy n thi h nh đối với khoản tiền trên thì người phải thi h nh án phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại Điều 357/BLDS; Khoản 2 Điều 468/BLDS.

5. Bản án n y được thi h nh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi h nh án dân sự thì người được thi h nh án dân sự, người phải thi h nh án dân sự có quyền thỏa thuận thi h nh án, quyền yêu cầu thi h nh án, tự nguy n thi h nh án hoặc bị cưỡng chế thi h nh án theo quy định tại các Điều 6, 7 v 9 Luật Thi h nh án dân sự; thời hi u thi h nh án được thực hi n theo quy định tại Điều 30 Luật thi h nh án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ng y k từ ng y tuyên án (20/9/2021).

Cỡ chữ