- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng thương mại cổ phần xăng dầu Petrolimex.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2020/KDTM-ST Ngày: 14 – 8 – 2020 V/v: tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Xuân Tộ.
Ông Nguyễn Đại Đồng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Quang, là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2020/TLST-KDTM ngày 20 tháng 01 năm 2020 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2020/QĐXXST-KDTM ngày 15 tháng 6 năm 2020 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 01/2020/QĐST-KDTM ngày 16 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần xăng dầu Petrolimex (PG Bank).
Địa chỉ: Tầng 16,23,24, Tòa nhà Mipec, số 229 Tây Sơn, phường Ngã Tư Sở, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quang Định. Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nghiêm Đức Toàn. Chức vụ: Phó Giám đốc chi nhánh Thăng Long ngân hàng thương mại cổ phần xăng dầu Petrolimex.Ủy quyền lại: Ông Lương Ngọc Thạch, chuyên viên xử lý nợ. Có mặt.
* Bị đơn:
1. Ông Nguyễn Văn S sinh năm 1976. Vắng mặt.
2. Bà Hoàng Thị H sinh năm 1982. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Đội 2 thôn HX, xã ĐH, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Cháu Nguyễn Thị Thùy L sinh năm 2003. Vắng mặt.
2. Cháu Nguyễn Hà M sinh năm 2015. Vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật của cháu L, cháu M: Bà Hoàng Thị H sinh năm 1982 (mẹ đẻ). Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Đội 2 thôn HX, xã ĐH, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án đại diện ngân hàng trình bày:
Ngân hàng thương mại cổ phần xăng dầu Petrolimex PG Bank, chi nhánh Thăng Long cho ông Nguyễn Văn S và bà Hoàng Thị H vay vốn theo 02 hợp đồng tín dụng:
Hợp đồng tín dụng số: 0589.764/HĐTD/TH-TN/PGBTL2016 ngày 28/06/2016 với những nội dung chính như sau: Số tiền vay: 299.000.000 đồng; thời hạn vay: 60 tháng (kể từ ngày rút vốn đầu tiên); lãi suất: 8,99%/năm và chịu sự điều chỉnh theo quy định của PG Bank; mục đích vay: Bù đắp vốn mua đất; lịch trả nợ gốc và lãi được trả định kỳ vào ngày 26 hàng tháng. Thực hiện hợp đồng tín dụng này, PG Bank đã giải ngân cho khách hàng một lần với tổng số tiền là 299.000.000 đồng theo khế ước nhận nợ số: 764/2016/KUNN-CN/PGBank Thăng Long ngày 30/6/2016.
Hợp đồng tín dụng số: 0030.764/2017/HĐTD-CN/PGBank TL ngày 26/4/2017 với những nội dung chính như sau: Số tiền vay: 395.000.000 đồng; thời hạn vay: 12 tháng (kể từ ngày tiếp theo của ngày rút vốn vay lần đầu); lãi suất: 8.99%/năm và chịu sự điều chỉnh theo quy định của PG Bank; mục đích vay: Bổ vốn lưu động sản xuất kinh doanh; lịch trả nợ gốc trả cuối kỳ, lãi trả định kỳ vào ngày 26 hàng tháng theo dư nợ thực tế; thực hiện hợp đồng tín dụng này, PG Bank đã giải ngân cho khách hàng một lần với tổng số tiền là 395.000.000 đồng theo khế ước nhận nợ số: 0030.764/2017/KUNN-CN/PGBankTL ngày 27/04/2017.
Tài sản bảo đảm cho các khoản vay nêu trên của khách hàng tại PG Bank là toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 254, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại thôn HX, xã ĐH, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 905388, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H 31372 do UBND huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội cấp ngày 10/01/2008; cập nhật sang tên cho ông Nguyễn Văn S và bà Hoàng Thị H tại Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội chi nhánh huyện Mỹ Đức ngày 06/05/2016 theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 001189/2016/HĐTC, quyền số 03TP/CC-CC/HĐND ngày 28/6/2016 tại Văn phòng công chứng Hùng Vương, Thành phố Hà Nội; hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp số 000876/2017/HĐSĐBS, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/4/2017 tại Văn phòng công chứng Hùng Vương, Thành phố Hà Nội; đã được đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội, chi nhánh huyện Mỹ Đức ngày 30/6/2016.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn ông S, bà H vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên PG Bank đã nhiều lần gửi thông báo và liên hệ để làm việc nhưng bị đơn không trả nợ, không hợp tác; vi phạm các điều khoản cam kết về nghĩa vụ trả nợ quy định tại các hợp đồng tín dụng đã ký với PG Bank. Vì thế, PG Bank yêu cầu bị đơn ông Sinh, bà H phải liên đới trả nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 14/8/2020, tổng số tiền bị đơn còn nợ PG Bank theo 02 hợp đồng tín dụng nêu trên là 847.224.311 đồng, trong đó nợ gốc là 604.360.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 55.703.147 đồng, nợ lãi quá hạn là 187.161.169 đồng.
Bị đơn tiếp tục phải chịu lãi suất theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng trên số dư nợ gốc tương ứng với thời gian chậm trả kể từ ngày 15/8/2020 cho đến khi tất toán.
Sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì Sacombank có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản nợ trên là toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 254, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại thôn HX, xã ĐH, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 905388, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H31372 do UBND huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội cấp ngày 10/01/2008; cập nhật sang tên cho ông Nguyễn Văn S và bà Hoàng Thị H tại Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội chi nhánh huyện Mỹ Đức ngày 06/05/2016 theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 001189/2016/HĐTC, quyển số 03TP/CC-CC/HĐND ngày 28/6/2016 tại Văn phòng công chứng Hùng Vương, Thành phố Hà Nội; hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp số 000876/2017/HĐSĐBS, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/4/2017 tại Văn phòng công chứng Hùng Vương, Thành phố Hà Nội; đã được đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội, chi nhánh huyện Mỹ Đức ngày 30/6/2016.
Tại biên bản xác minh ngày 03/6/2020, chính quyền địa phương xác nhận: Vợ chồng ông Nguyễn Văn S sinh năm 1976, bà Hoàng Thị H sinh năm 1982 và hai con là cháu Nguyễn Thị T sinh năm 2003, cháu Nguyễn Hà M sinh năm 2015 hiện đang cư trú, sinh sống tại địa chỉ: Đội 2 thôn HX, xã ĐH, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.
Tại biên bản xác minh ngày 20/7/2020 xác định: Ông Nguyễn Văn S hiện đang hưởng chế độ chính sách người khuyết tật nặng tại Ủy ban nhân dân xã Hồng Quang, huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội còn vẫn đang cư trú tại thôn HX, xã ĐH, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội; không mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi.
Tại văn bản số: 572/TCKH về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ về đăng ký hộ kinh doanh ngày 14/7/2020 của Phòng Tài chính kế hoạch huyện Mỹ Đức xác định: Ông Nguyễn Văn S được cấp giấy phép đăng ký hộ kinh doanh cho cơ sở kinh doanh: Cà phê, karaoke X5 đứng tên theo pháp luật đăng ký lần đầu ngày 24/7/2016, địa điểm kinh doanh: Đội 2, thôn HX, xã ĐH, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội; ngành, nghề kinh doanh: dịch vụ nước giải khát, karaoke.
- Tại đơn đề nghị ngày 20/7/2020, bị đơn ông Nguyễn Văn S, bà Hoàng Thị H trình bày: Ngày 30/6/2016 vợ chồng có vay của ngân hàng xăng dầu PG Bank 299.000.000 đồng. Ngày 27/4/2017, vợ chồng tiếp tục vay của PG Bank 395.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hai hợp đồng ông bà đã trả được 90.000.000 đồng nợ gốc còn nợ 604.360.000 đồng. Tính đến ngày 15/6/2020 tổng số tiền ngân hàng PG Bank yêu cầu trả nợ là 843.855.703 đồng thì ông bà đề nghị và mong muốn ngân hàng PG Bank xem xét, miễn giảm tối đa nợ lãi cho vợ chồng ông bà vì hiện nay hoàn cảnh kinh tế ông bà khó khăn. Tại thời điểm vay ông bà tự nguyện không bị ai lừa đối, ép buộc và minh mẫn, sáng suốt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là cháu Nguyễn Thị Thùy L, cháu Nguyễn Hà M. Người đại diện theo pháp luật của cháu L, cháu M: Bà Hoàng Thị H (mẹ đẻ): Mặc dù đã được Tòa án tống đạt đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có lời khai gì.
Tại phiên tòa, các đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Toà án cấp sơ thẩm đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến quá trình xét xử tại phiên tòa.
+ Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức sau khi phân tích đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông S, bà H phải trả nợ gốc, nợ lãi theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết có mục đích kinh doanh. Hộ ông Nguyễn Văn S được cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ theo quy định của pháp luật. Do đó đây là tranh chấp kinh doanh thương mại nên theo quy định tại khoản 01 Điều 30 và điểm b khoản 01 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 222 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Xét yêu cầu đòi nợ gốc, nợ lãi của ngân hàng PG Bank đối với bị đơn ông Nguyễn Văn S, bà Hoàng Thị H theo các hợp đồng tín dụng số 0589.764/HĐTD/TH-TN/PGBTL2016 ngày 28/06/2016; hợp đồng tín dụng số 0030.764/2017/HĐTD-CN/PGBank TL ngày 26/4/2017 tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm hết ngày 14/8/2020 là có căn cứ và tại thời điểm ký kết các hợp đồng tín dụng bị đơn ông Sinh, bà H hoàn toàn tự nguyện, minh mẫn, sáng suốt, tuân thủ nội dung và hình thức hợp đồng tín dụng theo đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn S, bà Hoàng Thị H phải trả ngân hàng PG Bank theo hai hợp đồng tín dụng nêu trên tổng số tiền là 847.224.311 đồng, trong đó nợ gốc là 604.360.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 55.703.147 đồng, nợ lãi quá hạn là 187.161.169 đồng.
Về lãi suất: Bị đơn còn phải thanh toán trả ngân hàng tiền lãi theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng tương ứng với thời gian chậm trả trên số dư nợ gốc kể từ ngày 15/8/2020 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bị đơn phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo bản án của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
Về xử lý tài sản thế chấp:
Xét hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 001189/2016/HĐTC, quyển số 03TP/CC-CC/HĐND ngày 28/6/2016 tại Văn phòng công chứng Hùng Vương, Thành phố Hà Nội và hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp số: 000876/2017/HĐSĐBS, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/4/2017 tại Văn phòng công chứng Hùng Vương, Thành phố Hà Nội; đã được đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội, chi nhánh huyện Mỹ Đức ngày 30/6/2016 là hợp pháp nên có giá trị thi hành. Nếu bị đơn ông Sinh, bà H vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo các hợp đồng tín dụng nêu trên thì ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 254, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại thôn Hà Xá, xã Đại Hưng, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 905388, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H 31372 do UBND huyện Mỹ Đức cấp ngày 10/01/2008 được cập nhật sang tên cho ông Nguyễn Văn S và bà Hoàng Thị H tại Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội chi nhánh huyện Mỹ Đức ngày 06/05/2016 để thu hồi nợ.
Trường hợp số tiền thu được sau khi phát mại tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bị đơn vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ ngân hàng cho đến khi tất toán. Nếu phát mại tài sản thế chấp giá trị lớn hơn khoản nợ thì số tiền chênh lệch phải trả lại cho chủ sở hữu, sử dụng.
Ngay sau khi bị đơn tất toán thì nguyên đơn có nghĩa vụ làm thủ tục giải chấp tài sản và trả lại giấy tờ thế chấp cho ông Nguyễn Văn S, bà Hoàng Thị H.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án có giá ngạch. Nguyên đơn được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
- Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2009 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2015.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ–UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
XỬ:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng thương mại cổ phần xăng dầu Petrolimex. Buộc bị đơn Nguyễn Văn S, bà Hoàng Thị H phải liên đới trả ngân hàng thương mại cổ phần xăng dầu Petrolimex theo các hợp đồng tín dụng số: 0589.764/HĐTD/TH-TN/PGBTL2016 ngày 28/06/2016; hợp đồng tín dụng số: 0030.764/2017/HĐTD-CN/PGBank TL ngày 26/4/2017 tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm hết ngày 14/8/2020 tổng số tiền là 847.224.311 đồng, trong đó nợ gốc là 604.360.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 55.703.147 đồng, nợ lãi quá hạn là 187.161.169 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bị đơnphải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
2. Về xử lý tài sản đảm bảo: Trường hợp bị đơn Nguyễn Văn S, bà Hoàng Thị H vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo các hợp đồng tín dụng nêu trên thì ngân hàng thương mại cổ phần xăng dầu Petrolimex có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 254, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại thôn HX, xã ĐH, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 905388, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H 31372 do UBND huyện Mỹ Đức cấp ngày 10/01/2008 được cập nhật sang tên cho ông Nguyễn Văn S và bà Hoàng Thị H tại Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội chi nhánh huyện Mỹ Đức ngày 06/05/2016 để thu hồi nợ.
Trường hợp số tiền thu được sau khi phát mại tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bị đơn vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ ngân hàng cho đến khi tất toán. Nếu phát mại tài sản thế chấp giá trị lớn hơn khoản nợ thì số tiền chênh lệch phải trả lại cho chủ sở hữu. Ngay sau khi bị đơn tất toán thì nguyên đơn có nghĩa vụ làm thủ tục giải chấp và trả lại giấy tờ thế chấp cho ông Nguyễn Văn Sinh và bà Hoàng Thị H.
3. Về án phí: Bị đơn ông S, bà H phải chịu 37.416.729 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả ngân hàng thương mại cổ phần xăng dầu Petrolimex: 16.248.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002629 ngày 17/01/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với nguyên đơn; kể từ ngày nhận được bản án hoặc bán án được niêm yết đối với các bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 Luật thi hành án dân sự; Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật thi hành án dân sự năm 2015 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -TAND TP Hà Nội; - VKSND TP Hà Nội; - VKSND huyện Mỹ Đức; - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức; - UBND xã Đại Hưng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Mạnh Thắng |