vanban.org

Bản án 04/2020/KDTM-PT — Tranh chấp về ký gửi

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/04/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Chấp nhận đơn kháng cáo của ông Phan Ngọc N là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Hoàng Trọng Như S, bà Nguyễn Thị Thùy M. Hủy Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 04/2019/KDTM-ST Ngày: 11 -11- 2019 của Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dâ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về ký gửi — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp hợp đồng ký gửi cà phê"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2020/KDTM-PT
Ngày 28 - 4 - 2020
V/v tranh chấp về ký gửi
cà phê để vay tiền.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Tuyết.

Các Thẩm phán:

Ông Trịnh Văn Toàn.

Ông Hng Kim Khánh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Ban, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 01/TLPT - KDTM ngày 02/01/2020 về việc “Tranh chấp về ký gửi cà phê để vay tiền”. Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 04/2019/KDTM-ST ngày 11/11/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 06/2020/QĐ-PT ngày 02/3/2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Vợ chồng ông Hoàng Trọng Như S (Hoàng Trọng S), bà Nguyễn Thị Thùy M (Nguyễn Thị M).

Địa chỉ: Số 268 đường Đ, phường A, thị xã H, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phan Ngọc N (Có mặt).

Địa chỉ: Số 69 đường C, phường L, thành phố T, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị đơn: Tổng công ty cà phê Việt Nam.

Địa chỉ: Số 211-213-213a đường L, phường T, quận N, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn M - Chức vụ: Tổng giám đốc

Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Lê Ngọc L; chức vụ: Quyền Giám đốc Công ty cà phê H.

Địa chỉ: Km2 đường Đ, phường A, thị xã H, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện theo ủy quyền của ông Lê Ngọc L tham gia tố tụng: Ông Trần Quốc H; chức vụ: Trưởng phòng Kế hoạch – Nông nghiệp Công ty cà phê H (Có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Đàm Quốc C – Luật sư thuộc Công ty luật N, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội;

Địa chỉ: 17 đường O, phường Tân Lợi, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Văn H (Có mặt) Địa chỉ: 194 đường Đ, phường A, thị xã H, tỉnh Đắk Lắk.

- Người làm chứng:

1. Ông Hà Đắc C (Vắng mặt); Địa chỉ: Thôn T, xã E, thị xã H, tỉnh Đắk Lắk.

2. Ông Lê Doãn L (Có mặt) ; Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện P, tỉnh Đắk Lắk

3. Ông Hng Hạnh (Có mặt); Địa chỉ: Tổ dân phố 2, phường Đ, thị xã H, tỉnh Đắk Lắk.

4. Ông Lê Thanh Tuấn (Có mặt); Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường A, thị xã H, tỉnh Đắk Lắk.

- Người kháng cáo: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Phan Ngọc N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phan Ngọc N trình bày:

Từ năm 1998 đến năm 2000, vợ chồng ông S, bà M cùng với ông Huỳnh Văn H có quan hệ mua bán cà phê với Công ty cà phê H nay là đơn vị trực thuộc của Tổng Công ty cà phê Việt Nam (gọi tắt là Công ty) theo phương thức: Công ty cho ông S, bà M và ông H vay tiền để mua cà phê với lãi suất từ 0,9 - 1,1%/ tháng, không quy định thời hạn vay. Sau khi vay tiền, ông S, bà M và ông H phải mua cà phê về nhập kho công ty. Khi nào giá cà phê bảo đảm có lãi, ông S, bà M, ông H và Công ty sẽ thoả thuận chốt giá cà phê tại thời điểm, hai bên đối chiếu công nợ và bù hoàn cho nhau. Việc thoả thuận không lập thành văn bản mà chủ yếu theo thông lệ mua bán cà phê tại địa phương. Quá trình mua bán ông S, bà M và ông H nhập kho gửi công ty 12 phiếu số lượng 142.460,7 kg cà phê nhân xô, (ngày nhập kho cuối cùng là 10-01-2000). Việc làm trên vợ chồng ông S, bà M đều giao cho ông Huỳnh Văn H là người làm công, giúp việc thân tín thực hiện. Việc làm ăn chung này, ông S, bà M và ông H cũng đã thỏa thuận, sau khi bán cà phê cho công ty và thanh toán công nợ, thì ông S, bà M và ông H sẽ tính toán với nhau”.

Ngày 21/4/2006, vợ chồng ông S, bà M quyết định bán 142.460,7 kg cà phê nói trên cho Công ty nhưng Công ty báo rằng số cà phê ông bà gửi tại Công ty đã chốt giá để trả nợ cho Công ty chỉ còn hơn 03 tấn. Vì vậy, ông S, bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty trả cho ông bà 142.460,7 kg cà phê nhân xô; Ông S, bà M đồng ý trả cho Công ty số tiền đã vay là 1.132.000.000đ ( Một tỷ một trăm ba mươi hai triệu đồng) cùng với tiền lãi.

Ngày 30/5/2006, ông S, bà M thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu Công ty cà phê H trả lại số cà phê của 08 phiếu mang tên ông S, bà M là 80.539,5 kg và đồng ý trả lại cho công ty số tiền là 95.000.000đ (Chín mươi lăm triệu đồng) và lãi suất theo thoả thuận, nếu phía công ty có đơn phản tố yêu cầu. Còn 04 phiếu mang tên ông H số lượng 61.912,2 kg là của ông H tự chốt giá số tiền 1.132.000.000 đồng ông H vay của Công ty ông H tự trả.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Trần Quốc H trình bày:

Những năm 1998 đến năm 2000 Công ty cà phê H thu mua cà phê theo phương thức cho ứng trước 70% giá trị cà phê gửi kho, lãi suất 0,9 đến 1,1 %/tháng, chốt giá sau. Trong 12 phiếu nhập kho ông S, bà M khởi kiện Công ty (có 04 phiếu mang tên ông S, 04 phiếu mang tên bà M và 04 phiếu mang tên ông H, số lượng cà phê nhân xô là 142.460,7kg. Quá trình giao dịch với Công ty đều do ông Huỳnh Văn H là người trực tiếp kí nhập. Sau khi gửi cà phê ông H cầm cố toàn bộ số cà phê trên để vay 1.132.000.000đ (Một tỷ một trăm ba mươi hai triệu đồng). Sau khi nhận tiền, cà phê liên tục rớt giá nên giá trị nhập kho cà phê không đủ trả nợ, hai bên lập biên bản đối chiếu công nợ và gia hạn thời hạn trả nợ. Do cà phê là loại thực phẩm dễ bị ẩm, mốc và mọt đục hạt. Trước tình hình đó, Công ty đã ra thông báo số 27 ngày 15/8/2002 gửi thông báo yêu cầu ông S, bà Mỹ đến Công ty chốt giá bán cà phê và thanh toán tiền vay nhưng ông S, bà Mỹ không nhận thông báo với lý do không giao dịch gì với Công ty. Sau đó, Công ty yêu cầu ông Huỳnh Văn H là người nhập cà phê đến chốt giá cà phê để trả nợ. Tháng 01/2003, ông H chốt bán 40.387,5 kg trả cho Công ty 428.107.893 đồng tiền lãi; Tháng 4/2005, ông H bán tiếp 95.303,1 kg trả cho công ty toàn bộ cả gốc và lãi là 1.445.104.600 đồng; số cà phê còn lại 6.770,1 kg.

Ngày 21/4/2006, ông Hoàng Trọng Như S và bà Nguyễn Thị Thùy M khởi kiện đòi Công ty cà phê H trả 142.460,7 kg cà phê và đồng ý trả cho Công ty cà phê H 1.132.000.000 đồng và lãi vay.

Ngày 30/5/2006 ông S, bà M thay đổi nội dung khởi kiện đòi Công ty cà phê H trả 80.539,5 kg cà phê và chỉ chấp nhận trả gốc 95.000.000đ và lãi vay theo thời gian cho công ty.

Căn cứ Quyết định số 1697/QĐ-BNN-QLDN ngày 05/5/2017 của Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng công ty cà phê Việt Nam và bản phụ lục kèm theo quyết định này, theo đó Công ty cà phê H trở thành đơn vị hạch toán phụ thuộc Tổng Công ty cà phê Việt Nam. Do đó xác định bị đơn là Tổng công ty cà phê Việt Nam

Tổng công ty cà phê Việt Nam khẳng định: 12 phiếu gửi mang tên ông S, bà M và ông H số lượng 142.460,7 kg cà phê nhân xô đều do ông Huỳnh Văn H trực tiếp gửi vào công ty, sau khi gửi ông H cầm cố toàn bộ số cà phê đã gửi để vay tiền của Công ty là 1.132.000.000 đồng. Nay ông H đã thực hiện xong nghĩa vụ của mình đối với Tổng công ty cà phê Việt Nam (trước kia Công ty cà phê H). Công ty không giao dịch với ông S, bà M. Nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông S, bà M.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn Hòa trình bày:

Tôi và vợ chồng ông S, bà M có quan hệ mua bán chung với nhau, việc giao dịch mua bán cà phê với Công ty cà phê H chỉ có mình tôi thực hiện việc gửi cà phê và vay tiền của Công ty. Quá trình giao dịch ông đã nhiều lần mượn tên của ông S, bà M để bán cà phê và vay tiền của Công ty. Theo quy định của Công ty, mỗi lần gửi cà phê nhập vào kho người gửi sẽ được vay 70% giá trị của lô hàng. Từ năm 1998 đến năm 2000, tôi đã nhập kho ký gửi cho Công ty 16 lần với 16 phiếu nhập kho, tôi đã thanh toán với Công ty 04 phiếu trong đó 03 phiếu tên Mỹ, 01 phiếu tên Sơn còn lại 12 phiếu nhập kho chưa thanh toán với tổng số 142.460,7 kg cà phê nhân xô và vay 1.132.000.000 đồng. Cụ thể:

* 04 phiếu nhập kho ký gửi cà phê mang tên Huỳnh Văn H gồm:

- Phiếu số 62 ngày 02/12/1998, nhập 3.383,3 kg, vay 50.000.000 đồng;

- Phiếu số 515 ngày 14/01/2000, nhập 26.566 kg, vay 210.000.000 đồng;

- Phiếu số 682, ngày 17/01/2000, nhập 13.928kg, vay 104.000.000 đồng;

- Phiếu số 983, ngày 20/01/2000, nhập 18.044 kg, vay 115.000.000 đồng.

* 04 phiếu mang tên bà Nguyễn Thị M gồm:

- Phiếu số 77 ngày 07/12/1998, nhập 3.536 kg, vay 50.000.000 đồng;

- Phiếu số 118, ngày 22/12/1998, nhập 3.371,2 kg, vay 48.000.000 đồng;

- Phiếu số 254 ngày 31/12/1998, nhập 3.151,5 kg, vay 45.000.000 đồng;

- Phiếu số 697 ngày 22/01/1999, nhập 3.705,5 kg, vay 50.000.000 đồng.

* 04 phiếu mang tên ông Hoàng Trọng S gồm:

- Phiếu số 174 ngày 06/01/2000, nhập 17.120,8 kg, vay 140.000.000 đồng;

- Phiếu số 73 ngày 28/12/1999, nhập 11.018,2 kg, vay 95.000.000 đồng;

- Phiếu số 83 ngày 30/12/1999, nhập 13.002,3 kg, vay 25.000.000 đồng;

- Phiếu số 307 ngày 10/01/2000, nhập 25.634 kg, vay 200.000.000 đồng.

Sau khi gửi cà phê, do công việc làm ăn xa nên tôi gửi toàn bộ 12 phiếu nhập kho và 12 phiếu chi (phiếu vay tiền của Công ty) cho vợ chồng ông S, bà M giữ giúp. Từ tháng 01/2003 và tháng 4/2005, tôi và Công ty đã thỏa thuận chốt giá cà phê các phiếu trên để trả nợ, hiện Công ty còn nợ tôi 6.770,1 kg cà phê nhân xô. Căn cứ 12 phiếu nhập kho tôi gửi, Ngày 21/4/2006, ông Hoàng Trọng Như S và bà Nguyễn Thị Thùy M khởi kiện đòi Công ty cà phê H 12 phiếu gửi là 142.460,7kg cà phê và đồng ý trả cho công ty 1.132.000.000 đồng và lãi suất. Tôi đến gặp ông S, bà M thì ông S, bà M đã bàn bạc với tôi kiện Công ty để lấy tiền chênh lệch chia nhau. Ông S bảo tôi lên Tòa cứ nhận là người làm thuê cho vợ chồng ông và ký vào các biên bản do Tòa án lập, còn mọi việc ông S lo liệu. Sau khi thắng kiện, sẽ chia phần chênh lệch. Vì thấy số tiền lớn nên tôi đồng ý theo sự sắp đặt của vợ chồng ông S, bà M. Nhưng sau đó ông S, bà M đã thay đổi yêu cầu chỉ đòi 08 phiếu mang tên ông S, bà M số lượng 80.539,5 kg cà phê nhân xô và đồng ý trả 95.000.000 đồng tiền vay của công ty. Nên tôi đề nghị Tòa án điều tra xác minh để làm rõ sự giả dối của ông S, bà M. Ông cũng khẳng định 12 phiếu nhập cà phê là chỉ có một mình ông giao dịch với Công ty, không liên quan gì đến ông S, bà M; ông cũng không đưa cho ông S, bà M số tiền 95.000.000 đồng. Hiện nay giữa ông và Công ty đã thanh toán dứt điểm, nên ông không có yêu cầu gì khác.

Người làm chứng ông Hà Đắc C trình bày: Trong thời gian từ năm 1998 tôi là xưởng trưởng xưởng chế biến cà phê Công ty cà phê H. Xưởng chế biến cà phê có chức năng nhận cà phê của khách hàng đem đến, tái chế, phân loại rồi xuất, cùng thời gian này xưởng có nhập một số cà phê do ông Huỳnh Văn H đem đến nhập, khi ký gửi nhiều phiếu được ghi tên phiếu nhập là Nguyễn Thị M và Hoàng Trọng S, còn phần thanh toán tôi không biết.

Người làm chứng ông Lê Thanh T trình bày: Trong thời gian từ năm 1998 tôi xưởng phó xưởng chế biến cà phê Công ty cà phê H với nhiệm vụ chỉ đạo công nhân phơi, sấy và chế biến cà phê, của khách hàng đem đến, tái chế, phân loại rồi xuất, và chỉ quan tâm đến chất lượng, số lượng cà phê vào xưởng, còn tên từng người cụ thể và cà phê của ai thì tôi không biết.

Người làm chứng ông Hoàng H trình bày: Tôi là kế toán Công ty cà phê H thuộc phòng kinh doanh từ năm 1998, theo chủ trương của công ty có cho hộ cá nhân trong công ty và người dân trong khu vực lân cận gửi cà phê và tạm ứng tiền để kinh doanh. Số tiền tạm ứng bằng 70% giá trị gửi vào theo giá thị trường. Trong quá trình hoạt động công ty quy định chỉ cần có cà phê thế chấp thì được tạm ứng tiền. Trong quá trình gửi cà phê và vay tiền tại công ty là do ông Huỳnh Văn H đem cà phê xuống nhập tại kho (khi nhập không xuất trình chứng minh nhân dân). Sau khi nhập cà phê ông H đem phiếu nhập đến phòng kế toán để tạm ứng 70% giá trị cà phê.

Người làm chứng ông Lê Doãn L trình bày: Vào thời điểm tháng 02/1999 tôi là kế toán viên xưởng chế biến Công ty cà phê H. Khi công nhân và người dân trên địa bàn đem cà phê nhân đến nhập kho tại công ty, thì bộ phận cân kiểm tra chất lượng về số lượng, độ ẩm, đen vỏ, tạp chất, kế toán có nhiệm vụ căn cứ số lượng, chỉ số về quy chuẩn thì ghi các số liệu vào phiếu “biên nhận cà phê nhân xô” do công ty Buôn Hồ ban hành. Tôi có lập 04 phiếu tên ông Huỳnh Văn H và 04 phiếu tên Hoàng Trọng S. Quá trình làm phiếu thì chỉ có ông Huỳnh Văn H đứng giao dịch, khi giao dịch thì không cần phải xuất trình chứng minh nhân dân.

Quá trình giải quyết vụ án từ năm 2007 cho đến nay đã xét xử nhiều lần và qua nhiều cấp xét xử:

Tại bản án KDTM sơ thẩm số 03/KDTM-ST ngày 03/8/2007, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, quyết định: Không chấp nhận đơn khởi kiện của ông Hoàng Trọng Như S và bà Nguyễn Thị Thùy M đòi nợ Công ty cà phê H 80.539,5 kg cà phê nhân đủ tiêu chuẩn xuất khẩu. Tách 04 phiếu mang tên ông H với số lượng là 62.948,5 kg cà phê nhân xô quy chuẩn để giải quyết riêng thành vụ án khác khi ông S, bà M có đơn yêu cầu.

Sau đó, ngày 16/8/2007 nguyên đơn ông Hoàng Trọng Như S, bà Nguyễn Thị Thùy M có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại bản án số 09/2007/DSPT ngày 15/11/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng, quyết định: Hủy toàn bộ bản án số 03/KDTM- ST của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, giao hồ sơ về Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk giải quyết lại vụ án.

Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk ban hành quyết định chuyển hồ sơ vụ án số 74/2007/QĐST- KDTM ngày 17/12/2007 chuyển hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân huyện Krông Búk để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản án KDTM sơ thẩm số 02/2008/KDTM-ST ngày 08/8/2008, Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, quyết định: Chấp nhận một phần yêu cầu của Vợ chồng ông Hoàng Trọng Như S, bà Nguyễn Thị Thùy M. Buộc Công ty cà phê H phải thanh toán cho vợ chồng ông S, bà M 80.539,5kg cà phê nhân xô theo giá 36.400đ/kg thành tiền là 2.931.637.800đồng

Sau đó ông Huỳnh Văn H và Công ty cà phê H kháng cáo bản án sơ thẩm nêu trên.

Tại bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 04/2009/KDTM- PT ngày 13/7/2009 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, quyết định: Chấp nhận kháng cáo của Công ty cà phê H và của ông Huỳnh Văn H, sửa toàn bộ án sơ thẩm. Bác yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Hoàng Trọng Như S và bà Nguyễn Thị Thùy M về việc đòi Công ty cà phê H 80.539,5 kg cà phê nhân xô.

Sau khi xét xử phúc thẩm, vợ chồng ông Hng Trọng Như S, bà Nguyễn Thị Thùy M có đơn khiếu nại, đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm nêu trên.

Tại quyết định kháng nghị số 18/KDTM-KN ngày 02/7/2012, Chánh án TANDTC kháng nghị Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 04/2009/KDTM - PT ngày 13/7/2009 của TAND tỉnh Đắk Lắk. Đề nghị Tòa kinh tế TANDTC xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hủy Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 04/2009/KDTM- PT ngày 13/7/2009 của TAND tỉnh Đắk Lắk và Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 02/2008/KDTM-ST ngày 08/8/2008 của TAND huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk; giao hồ sơ vụ án cho TAND thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk lắk xét xử lại theo quy định của pháp luật.

Tại quyết định giám đốc thẩm số 12/2013/KDTM-GĐT ngày 22/4/2013 của Tòa kinh tế TANDTC, quyết định: Hủy Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 04/2009/KDTM-PT ngày 13/7/2009 của TAND tỉnh Đắk Lắk và Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 02/2008/KDTM- ST ngày 08/8/2008 của TAND huyện Krông Buk, tỉnh Đắk Lắk; giao hồ sơ vụ án cho TAND thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lắk xét xử lại theo quy định của pháp luật.

Tại bản án KDTM sơ thẩm số 02/2015/KDTM-ST ngày 30/9/2015, Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ Quyết định;

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng ông Hoàng Trọng Như S, bà Nguyễn Thị Thùy M về việc yêu cầu Công ty cà phê H phải trả số lượng 80.539,5 kg cà phê nhân xô.

Sau đó ông Hoàng Trọng Như S, bà Nguyễn Thị Thùy M kháng cáo bản án sơ thẩm nêu trên. Tại bản án KDTM phúc thẩm số 08/2016/KDTM-PT ngày 07/6/2016, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Hoàng Trọng Như S, bà Nguyễn Thị Thùy M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi xét xử phúc thẩm, vợ chồng ông Hoàng Trọng Như S, bà Nguyễn Thị Thùy M có đơn khiếu nại, đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm nêu trên.

Tại quyết định kháng nghị số 64/QĐKN-VC2-V3 ngày 15/11/2016 Viện trưởng VKSNDCC tại Đà Nẵng kháng nghị Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 08/2016/KDTM-PT ngày 07/6/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Đề nghị TAND cấp cao tại Đà Nẵng xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại quyết định giám đốc thẩm số 31/2017/KDTM- GĐT của UBTP TAND cấp cao tại Đà Nẵng ngày 20/9/2017 quyết định: Hủy toàn bộ Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 08/2016/KDTM-PT ngày 07/6/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk và Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 02/2015/KDTM-ST ngày 30/9/2015 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk; giao hồ sơ vụ án cho TAND thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk lắk giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Tại bản án KDTM sơ thẩm số 01/2018/KDTM-ST ngày 04/5/2018, Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ Quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng ông Hoàng Trọng Như S, bà Nguyễn Thị Thùy M về việc yêu cầu Công ty cà phê H phải trả số lượng 80.539,5 kg cà phê nhân xô.

Sau đó ông Hoàng Trọng Như S, bà Nguyễn Thị Thùy M kháng cáo bản án sơ thẩm nêu trên.Tại bản án KDTM phúc thẩm số 12/2018/KDTM-PT ngày 08/11/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, quyết định:

Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của ông Phan Ngọc N là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Hoàng Trọng Như S, bà Nguyễn Thị Thùy M. Hủy bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2018/KDTM-ST ngày 04/5/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ xét xử lại theo quy định của pháp luật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 04/2019/KDTM-ST Ngày: 11 -11- 2019 của Toà án nhân dân thị xã buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

- Căn cứ các Điều 24, 48, 50 Luật thương mại; Điều 60 Luật thương mại năm 1997; Điều 326 BLDS năm 2005; khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các điều 144; 147; 161; 162; 191; 195; khoản 2 Điều 229 BLTTDS;

- Căn cứ khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng ông Hoàng Trọng Như S (Hoàng Trọng S), bà Nguyễn Thị Thùy My (Nguyễn Thị M) về việc yêu cầu Tổng công ty cà phê Việt Nam phải trả số lượng 80.539,5kg cà phê nhân xô.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định lệ phí, án phí, tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/11/2019, Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện ủy quyền của nguyên đơn là ông Phan Ngọc N giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện và nội dung đơn kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.

Về phía bị đơn cũng như luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị HĐXX phúc thẩm bác yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của người đại diện ủy quyền của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Bản án sơ thẩm đã không xác minh làm rõ những vấn đề còn mâu thuẫn trong vụ án nên cần hủy bản án sơ thẩm để điều tra và xét xử lại theo quy định của pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 - Chấp nhận đơn kháng cáo của người đại diện ủy quyền của nguyên đơn là ông Phan Ngọc N, hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về cho cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Ông Phan Ngọc N là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn kháng cáo, đơn kháng cáo nộp trong hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm, nên vụ án được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: Xét kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Phan Ngọc N. Đối chiếu với Bản án sơ thẩm mà Tòa án nhân dân Thị xã H đã xét xử HĐXX cấp phúc thẩm nhận thấy:

Các tài liệu chứng cứ do ông S, bà M cung cấp gồm 12 phiếu gửi cà phê hoặc phiếu nhập kho cà phê; 12 phiếu chi tiền; Bảng kê công nợ và kho thu mua tính đến ngày 20/7/2000; Thông báo về việc tính chi phí lưu kho số: 01 ngày 26/11 /2002 gửi ông Hng Trọng S đến Công ty để chốt giá cà phê trả nợ; Bảng kê tính lãi và giá bảo toàn phải chốt cà phê gửi kho hoàn nợ ngày 08/3/2005; đều có con dấu đỏ xác nhận của Công ty cà phê H.

Các tài liệu chứng cứ do Công ty cà phê H cung cấp gồm bảng kê tính lãi (BL 119, 120, 123 tập hồ sơ I), Bảng chi tiết cà phê gửi kho và cầm cố từ năm 1998 đến năm 2005, Bảng chi tiết nợ phải thu từ năm 1998 đến năm 2004, sổ tồn kho từ năm 1999 đến năm 2004 đều thể hiện người gửi cà phê cho Công ty có 04 phiếu mang tên ông S, 04 phiếu mang tên bà M, 04 phiếu mang tên ông H. Điều này chứng tỏ giữa Công ty với ông S, bà M và ông H có quan hệ làm ăn với nhau và các bên có đối chiếu công nợ với nhau.

Tại đơn trình báo ngày 25/12/2002 gửi Ban lãnh đạo Công ty cà phê H, ông Huỳnh Văn H trình bày “Vào những năm 1998 – 2000, Công ty cà phê H có cho gửi cà phê ứng tiền, vậy tôi có gởi trước sau 4 phiếu cà phê nhân số lượng 61.921,2 kg. Công ty đã cho tôi vay tổng cộng số tiền là 479.000.000 đồng với số phiếu 62, 515, 682, 983… Tôi có gởi cho bà Nguyễn Thị M 4 phiếu cà phê trên. Sau khi Công ty có thông báo thu nợ tôi xuống lấy số phiếu trên thì bà M không đưa và có ý định chiếm đoạt số phiếu trên… tôi làm đơn này kính trình lên công ty không được cho bà M dùng 4 số phiếu cà phê của chính tôi”. Chứng tỏ tại thời điểm chưa xảy ra tranh chấp, ông H đã thừa nhận trước sau chỉ gửi 04 phiếu số lượng 61.921,2 kg cà phê nhân tại Công ty cà phê H chứ không có yêu cầu gì đối với 08 phiếu số lượng 80.539,5 kg kg cà phê nhân xô mang tên ông S, bà M.

Căn cứ lời trình bày ban đầu của các đương sự đều thừa nhận trong 03 năm 1998 - 2000 ông S, bà M và ông H có quan hệ mua bán, gửi cà phê vào kho của Công ty cà phê H nay là Tổng công ty cà phê Việt Nam để vay tiền. Tổng số cà phê ông S, bà M và ông H gửi 12 phiếu số lượng là 142.460,7kg cà phê nhân xô và Công ty cho ông S, bà M và ông H vay số tiền 1.132.000.000 đồng. Trong đó ông S, bà M gửi 08 phiếu số lượng 80.539,5 kg cà phê nhân xô ông H gửi 04 phiếu số lượng 61.921,2 kg. Do đó, ông S, bà M khởi kiện yêu cầu Công ty trả cho ông, bà 08 phiếu nhập đứng tên ông S, bà M số lượng 80.539,5 kg cà phê nhân xô là có căn cứ;

Lời khai của những người làm chứng ông Lê Thanh T ông Lê Doãn L và ông Hoàng H trình bày: Thời gian từ năm 1998 theo chủ trương của công ty cho các cá nhân trong công ty và mọi người dân trong khu vực lân cận gửi cà phê và được Công ty cho vay tiền bằng 70% giá trị. Do vậy, việc ông H cho rằng mượn tên ông S, bà M để giao dịch với Công ty là không có căn cứ chấp nhận.

Về số tiền vay: Ông S, bà M thừa nhận khi nhập cà phê cho công ty thì ông H là người đi nhập giúp. Còn việc ứng (vay) tiền của công ty thì ông, bà không trực tiếp ký nhận tiền, không ứng hoặc vay tiền. Qua xem xét 08 phiếu nhập số lượng 80.539,5 kg cà phê nhân xô mang tên ông Hng Trọng S và Nguyễn Thị M đã được cầm cố để vay số tiền 653.000.000 đồng. Tại 08 phiếu “ Biên nhận cà phê nhân” hoặc “Phiếu gửi cà phê nhân” theo mẫu của Công ty thể hiện ghi tên người nhập là Hoàng Trọng S và Nguyễn Thị M nhưng ký tên người nhập là ông Huỳnh Văn H. Tại phần sau hoặc phần dưới của giấy nhập kho là phần vay vốn hoặc phần ứng tiền (trong cùng một tờ giấy nhập cà phê) đều thể hiện sau khi gửi cà phê thì ông S, bà M được Công ty cho vay hoặc (ứng tiền). Sau khi nhập cà phê và ứng tiền ông H đã mang phiếu nhập cà phê và phiếu chi tiền ( phiếu ứng tiền) về đưa cho ông S, bà M giữ. Mặt khác, Tại biên bản đối chất ngày 08/9/2014 người đại diện theo ủy quyền cho ông S, bà M trình bày “Ông H là người làm công cho ông S, bà M, là người thay ông S, bà M gửi cà phê và vay tiền tại Công ty, lúc này ông S, bà M coi ông H như em út trong gia đình nên để ông H mang toàn bộ số tiền vay để ông H có vốn làm ăn kiếm lời”. Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền cho ông S, bà M cũng thừa nhận ông S, bà M có biết việc ông Huỳnh Văn H đã cầm cố 80.539,5 kg cà phê nhân xô của mình để vay của Công ty 653.000.000 đồng nhưng để ông H lấy vốn làm ăn. Do đó, có căn cứ xác định ông S, bà M biết được số lượng 80.539,5 kg cà phê nhân xô của ông, bà đã bị ông H cầm cố cho Công ty để vay tiền mà không có ý kiến gì. Trong quá trình giải quyết lại vụ án. Đáng lẽ, Tòa án cấp sơ thẩm phải thu thập, xác minh làm rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa việc ký gửi cà phê và việc vay tiền vì chỉ được vay tiền trên cơ sở số cà phê ký gửi vào Công ty và số cà phê này là tài sản để đảm bảo khoản vay để từ đó có cơ sở xác định trách nhiệm trả nợ giữa ông S, bà M cho Công ty. Cấp sơ thẩm không xem xét làm rõ quan hệ giao dịch nhập cà phê và vay tiền giữa vợ chồng ông S, bà M với Công ty cà phê H. Quan hệ làm ăn chung giữa ông S, bà M và ông H mà cho rằng ông Huỳnh Văn H là người đã mượn tên của ông S bà M trực tiếp giao dịch nhập cà phê và vay tiền của Công ty, nay ông H đã thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ đối với Công ty cà phê H (nay là Tổng công ty cà phê Việt Nam), nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông S, bà M là không đúng.

Từ những chứng cứ, nhận định nêu trên có căn cứ xác định giữa ông S, bà M có mối quan hệ gửi giữ cà phê và vay tiền với Công ty cà phê H (nay là Tổng công ty cà phê Việt Nam) theo 08 phiếu gửi mang tên của ông S, bà M số lượng 80.539,5 kg cà phê nhân xô tại Công ty là của ông S, bà M. Ông S, bà M đã biết được toàn bộ số cà phê trên đã được cầm cố để vay tiền và đồng ý để ông H nhận tiền sử dụng, nên phải chịu trách nhiệm đối với số tiền đã vay của Công ty. Do vậy, khi giải quyết lại vụ án cần giải thích cho Tổng Công ty cà phê giải quyết luôn số tiền vay 653.000.000 đồng tương ứng với số cà phê ký gửi theo 08 phiếu là 80.539,5 kg đứng tên ông S, bà M để giải quyết trong cùng vụ án mới đảm bảo quyền lợi của các đương sự. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm thu thập, xác minh, đánh giá chứng cứ không đầy đủ, quyết định trong bản án không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phan Ngọc N - Hủy Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ.

Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Sẽ được giải quyết khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Nguyên đơn kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm và được hoàn lại tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Chấp nhận đơn kháng cáo của ông Phan Ngọc N là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Hoàng Trọng Như S, bà Nguyễn Thị Thùy M.

- Hủy Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 04/2019/KDTM-ST Ngày: 11 -11- 2019 của Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ xét xử lại theo quy định của pháp luật.

[2] Về án phí:

[2.1] Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Được xác định lại khi Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ xét xử lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

[2.2] Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Ông Hoàng Trọng Như S (Hoàng Trọng S) và bà Nguyễn Thị Thùy M (Nguyễn Thị M) không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Thùy M (Nguyễn Thị M) số tiền 2.000.000 đồng tạm ứng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm đã nộp (Ông Hoàng Trọng Huỳnh T) đứng tên người nộp) theo các biên lai thu số 0004700 ngày 13/12/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ