- Tranh chấp gì? án hình sự — "260.Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) - phạm tội vi phạm quy định v…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Minh Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2020/HSST Ngày: 13/01/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Hoàng Văn Quang;
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Tính và bà Nguyễn Thị Xuân Thủy.
Thư ký phiên tòa:Ông Bùi Đắc Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên toà:Bà Phong Thị Lan -Kiểm sát viên.
Ngày 13/01/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:325/2019/HSST ngày 09 tháng 12 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:325/2019/HSST ngày 24 tháng 12 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2020/QĐHPT ngày 07/01/2020đối với bị cáo:
Trƣơng Minh Đ, sinh năm 1990; giới tính: Nam;nơi ĐKHKTT và cư trú: Xóm Nghìa, xã Đa Phúc, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; con ông: Tr (đã chết); con bà: Bùi Thị S, sinh năm 1952; có vợ là Lâm Thị B, sinh năm 1991 và có 2 con (sinh năm 2013 và 2018); tiền án,tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1942 (đã chết); Người đại diện hợp pháp của ông T: Anh Nguyễn Văn Nh, sinh năm 1984; trú tại số nhà 111, tổ dân phố Phúc Lý 3, phường Minh Khai, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Anh Nh có mặt.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:Công ty cổ phần đầu tư; địa chỉ: Tổ dân phố Hồng Ngự, phường Thụy Phương, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T – Giám đốc. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Minh Đ có giấy phép lái xe ô tô hạng C, là nhân viên lái xe hợp đồng cho Công ty cổ phần đầu tư. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 12/9/2019, Đ điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu Hyundai BKS 29C-610.70 đi từ xã Di Trạch, huyện Hoài Đ về cảng cát tại phường Liên Mạc, quận Bắc Từ Liêm để chở cát. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày Đ điều khiển xe đến đường liên phường Minh Khai – Tây Tựu theo hướng từ đường Văn Tiến Dũng đi Tây Tựu. Khi đến ngã tư giao cắt với đường vào cổng làng Phúc Lý thuộc tổ dân phố Phúc Lý 3, phường Minh Khai, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội thì xe ô tô BKS 29C-610.70 do Đ điều khiển va chạm với xe đạp do ông Nguyễn Văn T đang dắt bộ sang đường dẫn đến ông T bị thương nặng và được cấp cứu tại Bệnh viện 198 đến 21 giờ cùng ngày thì tử vong.
Quá trình điều tra Đ khai nhận hành vi như trên và khai tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông, Đ điều khiển ô tô chạy tốc độ trên 60km/h, đã đạp hết phanh chân và kéo phanh tay xe ô tô nhưng do chủ quan không giảm tốc độ nên xe vẫn va chạm với ông T.
Vật chứng thu giữ: ô tô tải nhãn hiệu Hyundai BKS 29C-610.70; giấy chứng nhận đăng kiểm, giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc; giấy phép lái xe, chứng minh nhân dân mang tên Trương Minh Đ; xe đạp.
Khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường đoạn đường xảy ra tai nạn là đường liên phường Minh Khai – Tây Tựu, đang được thi công xây dựng, chưa được nghiệm thu, bàn giao và đưa vào sử dụng. Đường được bố trí đi theo hai chiều đường, ở giữa có dải phân cách cứng phân chia chiều đường. Hiện trạng đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao thông là khu cực ngã tư giao nhau theo 4 hướng: Tây Tựu - Văn Tiến Dũng – Tổ dân phố Số 3 Phúc Lý, Minh Khai và hướng đi nghĩa trang phường Minh Khai. Mặt đường được dải nhựa bê tông bằng phẳng, chiều đường đi Tây Tựu có lòng đường rộng 11m30, có vạch kẻ sơn nét đứt phân chia phần đường. Khu vực giữa đường có lối mở rộng 33m10; hướng đi tổ dân phố Số 3 phường Minh Khai rộng 18m80; hướng đi nghĩa trang Minh Khai rộng 3m70. Đường chưa có biển báo hiệu giao thông.
Vị trí xe ô tô tải nhãn hiệu Hyundai màu sơn đỏ - đen BKS 29C-610.70 được xác định đi theo hướng từ Văn Tiến Dũng đi Tây Tựu, đuôi xe hướng Văn Tiến Dũng. Đo từ vị trí tâm đầu trục bánh xe I, II, III bên trái thứ tự từ phía trước về sau đo vuông góc vào mép đường chuẩn đo được 0m50, 0m90 và 1m02.
Vị trí xe đạp màu sơn bạc: Trước khi va chạm giao thông đi theo hướng từ nghĩa trang phường Minh Khai đi tổ dân phố Số 3, Minh Khai. Sau khi va chạm giao thông, xe đổ nghiêng bên phải trên mặt đường. Đo từ tâm trục bánh xe I, II vào mép đường chuẩn có số đo lần lượt là 2m03 và 2m05. Đo từ tâm trục bánh II xe đạp đo dọc lòng đường đến tâm đầu trục bánh xe số I bên phải xe ô tô BKS 29C-610.70 đo được 9m90.
Vị trí thùng nhựa trên giá đeo hàng phía sau của xe đạp có kích thước 0m50x0m30. Đo từ mép gần nhất của mép thùng nhựa đến tâm trục bánh II xe đạp đo được 0m42, đo từ mép gần nhất của thùng nhựa đến mép đường chuẩn đo được 3m20.
Vị trí vùng máu nạn nhân, kích thước 0m36x0m30, đo từ mép gần nhất của vùng máu vào tâm trục bánh II xe đạp đo được 1m50, đo từ mép gần nhất của vùng máu vào mép đường chuẩn đo được 1m30.
Vị trí vết dê trượt lốp đơn màu đen trên mặt đường có kích thước 22m20x0m20. Đo từ điểm đầu vết dê trượt vào mép đường chuẩn có số đo 4m40. Điểm cuối trùng hàng lốp thứ 3 bên trái từ trước về sau.
Vị trí vết dê trượt lốp kép màu đen kích thước 22m40x0m70. Đo từ mép gần nhất của vết dê trượt vào mép đường chuẩn có số đo 6m15. Điểm cuối trùng hàng lốp thứ 3 bên phải kể từ trước về sau.
Khám nghiệm phương tiện xác định:
+ Đối với xe ô tô BKS 29C-610.70: Mặt ngoài góc chắn đà phía trước bên phải đầu xe có vùng dấu vết tỳ trượt, bong chóc lớp nhựa bên ngoài lộ lớp nhựa màu trắng bên trong KT 15x19cm, thấp nhất cách đất 65cm, điểm thấp nhất cách tâm trục bánh 1 bên phải 142cm.
Mặt ngoài góc tản nhiệt bên phải, phía trước đầu xe có vùng vỡ rạn nứt, chiều hướng chưa xác định, KT 42x9cm, thấp nhất cách đất 118cm.
Mặt ngoài phía trước mặt la răng, bên phải có vùng dấu vết làm bong tróc, mất lớp sơn màu đỏbên ngoài, lộ chất màu trắng bên trong, chưa xác định chiều hướng KT 13x10cm, thấp nhất cách đất l02cm,điểm gần nhất cách chân chữ T trong hàng chữ TRAGO (ở phía trên dấu vết) là 80cm.
+ Đối với xe đạp không biển số, màu trắng: Mặt ngoài đầu tay lái bên trái có dấu vết tỳ trượt, trên bề mặt còn bám dính chất màu đỏ(dạng sơn) không xác định được chiều hướng KT 2.5x2.5cm, thấp nhất cách đất 97,5cm, điểm gần nhất cách cổ phốt 29cm.
Mặt ngoài chắn bùn trước bên trái có dấu vết tỳ trượt làm lõm chắn bùn, trên bề mặt còn bám dính chất màu đỏ (dạng sơn), vết có chiều từ trái qua phải KT 2.5x1.5cm, thấp nhất cách đất 57cm, điểm gần nhất cách càng bên trái 9.5cm.
Mặt ngoài, phía trên giỏ để hàng bằng nhựa có vết trượt xước, TK4x0.5cm, không xác định chiều hướng, thấp nhất cách đất 102cm, gần nhất cách cổ phốt xe 30cm.
Mặt ngoài, phía dưới giỏ để hàng có vết tỳ trượt, KT 4x0.5cm, điểm gần nhất cách trục trái (cổ phốt) 25cm, thấp nhất cách đất 78cm.
Mặt ngoài đầu bàn để chân bên phải (bàn đạp) có dấu vết trượt xước nhựa, chưa xác định chiều hướng, KT 6x2.5cm, thấp nhất cách đất 78cm.
Mặt ngoài phía sau yên xe bên phải có vết trượt xước, trên bề mặt còn bám dính chất bột đá, KT 3x2cm, thấp nhất cách đất 81cm.
Khám nghiệm chiếc xô nhựa treo trên xe đạp: KT thùng nhựa cao 38cm, rộng (đáy lớn) 30cm, đáy nhỏ: 25cm. Trong thùngkhông chứa đựng đồ vật gì.
Phía dưới phần tiếp giáp đáy nhỏ có dấu vết tỳ trượt, xước làm vỡ thùng nhựa, KT 12x6cm, điểm gần nhất trùng với đáy nhỏ (phía dưới thùng).
Mặt ngoài thân thùng có dấu vết tỳ trượt làm vỡ thành thùng, trên bề mặt còn bám dính chất màu đen (dạng sơn), KT 29x10cm, điểm gần nhất cách đáy nhỏ 1.5cm.
Kết luận giám định số 5520/C09-P03 ngày 02.10.019 của Viện khoa học hình sự kết luận:
1. Dấu vết hằn hình cung cong, trượt xước mất sơn màu đỏ phía ngoài và nhựa tổng hợp màu trắng phía trong ở mặt trước bên phải mặt nạ đầu xe ô tô biển số 29C-610.70 có chiều từ trước về sau (ảnh 4, 6 trong bản ảnh giám định), phù hợp với dấu vết biến dạng kim loại, trượt dính chất màu đỏ (dạng sơn) ở mặt ngoài phía dưới đầu ống kim loại tay lái bên trái xe đạp. Dấu vết va chạm ở xe đạp tại vị trí này có chiều từ bên trái sang bên phải (ảnh 5, 7 trong bản ảnh giám định).
Các dấu vết còn lại ở xe ô tô biển số 29C-610.70 và ở xe đạp được ghi nhận trong biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông của Công an quận Bắc Từ Liêm hiện tại không thể hiện rõ đặc điểm nên không đủ yếu tố giám định.
2. Tốc độ của xe ô tô biển số 29C-610.70 ngay trước khi để lại dấu vết phanh tại hiện trường là 63km/h đến 67km/h.
3. Không xác định được vị trí va chạm đầu tiên và vị trí va chạm trên mặt đường tại hiện trường giữa xe ô tô biển số 29C-610.70 với xe đạp.
Kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 12/GĐTT-TTPY ngày 02/10/2019 của Trung tâm pháp y kết luận thương tích của ông Nguyễn Văn T: Dấu hiệu chính qua giám định: Chấn thương ngực (lồng ngực mất vững, không khí giảm; CT Scanner lồng ngực: Tràn dịch, tràn khí màng phổi, xẹp phổi); gãy thành ngoài hốc mắt bên trái; biến dạng xương đùi trái, đã được nẹp cố định. Nguyên nhân chết: Do không mổ tử thi nên không thể kết luận chính xác nguyên nhân chết; nhiều khả năng nạn nhân Nguyễn Văn T tử vong do suy hô hấp cấp không hồi phục hậu quả của chấn thương ngực rất nặng trên nạn nhân có đa chấn thương.
Đối với xe ô tô tải BKS 29C-610.70 là tài sản của Công ty cổ phần đầu tư được bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc tại Công ty cổ phần hàng không. Công ty cổ phần hàng không chưa nhận được thông báo tai nạn và yêu cầu bồi thường của Công ty cổ phần đầu tư. Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả Công ty cổ phần đầu tư xe ô tô tải BKS 29C-610.70 cùng giấy tờ xe và không có yêu cầu bồi thường gì.
Đối với xe đạp không biển số màu bạc, quá trình điều tra xác định là tài sản của gia đình ông T nên đã trả lại gia đình ông T.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra sự việc, Trương Minh Đ đã bồi thường gia đình ông T 70.000.000 đồng. Gia đình ông T không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đ.
Tại bản cáo trạng số: 297/CT-VKSBTL ngày 29tháng 11năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố Trương Minh Đvề tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:Bị cáo khai như đã khai tại cơ quan điều tra và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm giữ nguyên quyết định truy tố của bản cáo trạng. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử,áp dụngđiểm a khoản 1, khoản 5Điều 260; điểmb, skhoản 1, khoản 2Điều 51; Điều 65Bộ luật hình sự;xử phạt bị cáo mức án từ15đến 18thángtù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng, phạt bổ sung cấm bị cáohành nghề lái xe ô tô trong thời hạn 2 đến 3 năm; đề nghị xử lý vật chứng: Tạm giữ giấy phép lái xe đến hết thời gian cấm hành nghề, trả bị cáo chứng minh nhân dân; trách nhiệm dân sự: Không.
Người đại diện hợp pháp của người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, mẹ già yếu, con nhỏ và bị cáo là lao động chính để cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, tạo cơ hội cho bị cáo sửa chữa và chăm sóc gia đình. Về trách nhiệm dân sự các bên đã bồi thường xong, không yêu cầu bị cáo, Công ty cổ phần đầu tư phải bồi thường gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Trên cơ sở kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Trương Minh Đ khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ, bản ản hiện trường, kết luận giám định dấu vết để lại trên phương tiện và hiện trường; kết luận giám định pháp y về thương tích, nguyên nhân chết của ông Nguyễn Văn T,vật chứng được thu giữ, cùng các tài liệu,chứng cứ khác.
Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 12/9/2019, Trương Minh Đ điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu Hyundai BKS 29C-610.70 đi trên đường liên phường Minh Khai – Tây Tựu theo hướng từ đường Văn Tiến Dũng đi Tây Tựu. Khi đến ngã tư giao cắt với đường vào cổng làng Phúc Lý thuộc tổ dân phố Phúc Lý 3, phường Minh Khai, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Đ không giảm tốc độ nên đã va chạm với xe đạp của ông Nguyễn Văn T đang dắt bộ sang đường làm ông T tử vong.
Hành vi Trương Minh Đ điều khiển xe ô tô chạy quá tốc độ, không giảm tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa cho phép khi đến đường giao nhau, khi có người đi bộ qua đường không đảm bảo an toàngây ông T tử vong đã vi phạm khoản 11 Điều 8, Điều 12, Điều 24 Luật giao thông đường bộ; các điều 4, 5, 6 Thông tư 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ. Do vậy hành vi của bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng và tính mạng của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân.Tuy nhiên cũng xem xét, bị hại tham gia giao thông dắt xe đạp qua đường tại nơi đường giao nhauvới đường chính và không qua đường ở nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ nên bị hại có lỗi một phần. Còn bị cáo không giảm tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa cho phép khi đến đường giao nhau,không đảm bảo an toàn gây ông T tử vong,do vậy lỗi phần lớn thộc về bị cáo. Vì vậy không có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo vàcần áp dụng mức hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tích chất, mức độ phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục riêng vàcần áp dụng hình phạt bổ sung cấm bị cáo lái xe ô tô có thời hạn để phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét: Sau khi phạm tội, bị cáo đã chủ động trình báo; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại, được gia đình người bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, lần đầu phạm tội do vô ý, đã tự nguyện bồi thường và được người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, bị cáo có hoàn cảnh gia đình éo le, bản thân là lao động chính, có đơn xin cải tạo tại địa phương được chính quyền địa phương đề nghị xem xét giải quyết. Do vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
.Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo và Công ty cổ phần đầu tư đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại 70.000.000 đồng. Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bị cáo và Công ty cổ phần đầu tư phải bồi thường gì thêm; quá trình điều traCông ty cổ phần đầu tư không đề nghị xem xét trách nhiệm dân sự bắt buộc đối với Tổng công ty cổ phần bảo hiểm hàng không trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quậnBắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại, nên hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ: 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C, số 740176008216 cần tiếp tục tạm giữ đến khi chấp hành xong hình phạt bổ sung.
Đối với 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Trương Minh Đ không liên quan đến tội phạm cần trả lại bị cáo.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260;điểm b, s khoản 1, khoản 2Điều 51;Điều 65Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Trương Minh Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Trương Minh Đ 15 (mười lăm)tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đa Phúc, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Trương Minh Đ lái xe ô tô trong thời hạn 02 (hai) năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Xử lý vật chứng:
- Tạm giữ 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C, số 740176008216 đến khi Trương Minh Đ chấp hành xong hình phạt bổ sung.
- Trả lại Trương Minh Đ 01 giấy chứng minh nhân dân số 113393650 mang tên Trương Minh Đ.
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 51/20 ngày 02/12/2019 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm).
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Án xử sơ thẩm công khai; bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản ántrong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật. .
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Người liên quan; - TT lý lịch-Sở Tư pháp Hà Nội; - VKSND Q. Bắc Từ Liêm; - VKSND thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - Công an Q. Bắc Từ Liêm; - Chi cục THADS Q. Bắc Từ Liêm; - Lưu HS - VP | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hoàng Văn Quang |