vanban.org

Bản án 04/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 18/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo TMT 02 (hai) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23-12-2019.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động Sam sung, màu đồng, (màn hình bị vỡ), số Imei 1: 353298087846146, số Imei 2: 353299087846144, có sim số 0916153178 và tiền Việt Nam 300.000 đồng (Ba trăm nghì… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TMT - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo TMT 02 (hai) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23-12-2019.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2020/HS-ST
Ngày 18-02-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An.

Các Hội thẩm nhân dân :

1. Ông Cao Hoài Hiêm.

2. Ông Lê Đình Nhung.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hữu Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TB, tỉnh TN.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Phạm Thanh Giúp - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2020/TLST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

TMT; sinh năm: 1994; tại huyện TB, tỉnh TN; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú: Ấp L, xã G, huyện TB, tỉnh TN; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông TVE (chết) và bà PTS; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Chưa có; bị tạm giữ ngày 23-12-2019, bị tạm giam ngày 26-12-2019 đến nay. (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông DMD; sinh năm: 1981; địa chỉ: Ấp S, xã P, huyện G, tỉnh TN. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

TMT là người nghiện ma túy, để có tiền tiêu xài và có ma túy sử dụng, nên T mua ma tuý về sử dụng và bán lại cho người khác kiếm tiền chênh lệch. Vào khoảng 10 giờ ngày 23-12-2019, T đi đến khu vực ngã tư A, thuộc ấp A, xã A, huyện TB, tỉnh TN mua của người thanh niên tên TG (không rõ họ tên, địa chỉ) 01 bịch chất ma túy giá 200.000 đồng đem về nhà sử dụng một ít, còn lại để bán. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày NVS gọi điện thoại cho T hỏi mua 01 bịch ma tuý giá 300.000 đồng thì T đồng ý và hẹn điểm giao nhận. Sau đó T điều khiển xe mô tô biển số F1- 661.18 đem 01 bịch chất ma tuý đến Hương lộ 2, thuộc ấp L, xã G, huyện TB, tỉnh TN giao cho S và nhận tiền thì bị Công an huyện Trảng Bàng bắt quả tang, thu giữ vật chứng để điều tra xử lý. Qua điều tra T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Vật chứng thu giữ: 01 bịch ny lon được hàn kín bên trong có chứa tinh thể trong suốt, 01 điện thoại di động hiệu Sam sung (màn hình bị vỡ), màu đồng; 01 xe mô tô Wave Alpha, màu trắng đen bạc, biển số F1-661.18; tiền Việt Nam 810.000 đồng; 01 chứng minh nhân dân tên TMT.

Tại Kết luận giám định số: 1880/KL-KTHS ngày 26-12-2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Tinh thể trong suốt bên trong 01 bịch ny lon trong suốt được bịt kín (kí hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy; tên loại Methamphetamine; khối lượng 0,0536 gam.

Do TMT không có tài sản nên không kê biên.

Đối với người thanh niên tên T bán ma túy không rõ họ, tên, địa chỉ nên không có căn cứ để cơ quan điều tra xác minh làm rõ.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của TMT và NVS đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Tại Cáo trạng số: 10/CT-VKSTrB ngày 03-02-2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, đã truy tố bị cáo TMT về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: TMT từ 02 đến 03 năm tù. Không phạt bổ sung bị cáo do bị cáo không có tài sản. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu sung quỹ tiền Việt Nam 300.000 đồng và 01 điện thoại di động Sam sung (màn hình bị vỡ), màu đồng. Riêng 01 xe mô tô Wave Alpha, màu trắng đen bạc, biển số F1-661.18 đã trả lại cho chủ sở hữu anh DMD xong. Trả lại cho bị cáo tiền Việt Nam 510.000 đồng và 01 chứng minh nhân dân tên TMT.

Bị cáo nói lời sau cùng: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TB trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà hôm nay bị cáo TMT thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với Cáo trạng truy tố, lời luận tội của Kiểm sát viên và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ thể hiện: Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 23-12-2019, tại Hương lộ 2, thuộc ấp L, xã G, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, Công an huyện Trảng Bàng, bắt quả tang T đang bán cho Sáng 01 bịch ma tuý và nhận 300.000 đồng, thu giữ vật chứng là 01 bịch nylon bên trong có chứa chất ma túy loại Methamphetamine; khối lượng 0,0536 gam là vi phạm pháp luật.

Hành vi của bị cáo TMT có đủ yếu tố cấu thành tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, như luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo biết rõ chất Methamphetamine là Nhà nước cấm tàng trữ, mua bán, sử dụng …, nhưng bị cáo vẫn mua về sử dụng và bán lại cho người khác nhằm thỏa mãn cho nhu cầu của cá nhân. Do đó hành vi của bị cáo cần phải xử phạt mức án nghiêm, cách ly xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Khi quyết định hình phạt, có cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo. Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự đã xuất ngũ, được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Do bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vật chứng thu giữ: 01 bịch nylon màu trắng được hàn kín gửi đến giám định là chất ma túy loại Methamphetamine; khối lượng 0,0536 gam đã hết trong quá trình giám định nên không xử lý. Tiền Việt Nam là 810.000 đồng, trong đó 300.000 đồng do bán ma túy mà có nên tịch thu sung quỹ là phù hợp. Riêng 510.000 đồng và 01 Chứng minh nhân dân là của bị cáo không liên quan đến mua bán ma túy nên trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ tiền để đảm bảo thi hành án.

01 điện thoại di động Sam sung (màn hình bị vỡ), màu đồng là của bị cáo dùng liên lạc để mua bán ma túy, là phương tiện phạm tội, còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung quỹ là phù hợp.

01 chiếc xe mô tô Wave Alpha, màu trắng đen bạc, biển số F1-661.18 đã trả lại cho chủ sở hữu anh DMD xong, xét thấy phù hợp nên cần ghi nhận.

Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên .

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo TMT 02 (hai) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23-12-2019.

2. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động Sam sung, màu đồng, (màn hình bị vỡ), số Imei 1: 353298087846146, số Imei 2: 353299087846144, có sim số 0916153178 và tiền Việt Nam 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đồng.

- Trả lại cho bị cáo T 01 Chứng minh nhân dân và tiền Việt Nam 510.000 (Năm trăm mười nghìn) đồng, nhưng tạm giữ tiền để đảm bảo thi hành án.

(Số vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bàng đang giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03-02-2020).

- Ghi nhận cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bàng đã trả lại cho anh DMD 01 chiếc xe mô tô Wave Alpha, màu trắng đen bạc, biển số F1-661.18 xong.

3. Án phí: Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo TMT phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt họp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ