- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma Túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma Ty”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂNDÂN HUYỆN ĐẮK HÀ TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2020/HSST Ngày: 05/5/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘICHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂKHÀ , TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Qúy Nhân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lánh
Bà Lê Ngọc Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Lê - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Cẩm Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 5 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2020/TLST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:
Trần Quốc T; tên gọi khác: Không; sinh ngày 17 tháng 7 năm 2001 tại tỉnh Gia Lai; Nơi Đăng ký HKTT: Tổ dân phố 6, thị trấn Plei K, huyện NH, tỉnh Kon Tum; Nơi cư trú: Tổ dân phố 1, thị trấn Plei K, huyện NH, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa (học vấn): lớp 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Quốc V; sinh năm: 1972 và bà Vũ Thị X; sinh năm: 1968; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10 tháng 11 năm 2019 cho đến nay, ngày 05 tháng 5 năm 2020 (Có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Nguyễn Văn Ch; sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn C, xã SL, huyện NH, tỉnh Kon Tum.(Có mặt tại phiên tòa).
+ Anh Hùng Văn T1; sinh năm: 1995; nơi cư trú: Thôn MT, xã BY, huyện NH, tỉnh Kon Tum (Vắng mặt)
+ Anh Võ Minh L; sinh năm: 1988; nơi cư trú: Thôn MT, xã BY, huyện NH, tỉnh Kon Tum (Vắng mặt)
- Những người tham gia tố tụng khác: Không
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tối ngày 09/11/2019, Trần Quốc T và Nguyễn Văn Ch, đi cùng nhau từ huyện NH đến thành phố K thì Ch (Trú tại: Thôn C, xã SL, huyện NH, tỉnh Kon Tum) về trước còn T đón xe taxi về sau. Đến 3 giờ sáng ngày 10/11/2019 T đã gọi điện thoại cho CH và gặp nhau tại đường Ngô Quyền thuộc tổ dân phố 1, thị trấn Plei K, huyện NH, tỉnh Kon Tum. Khi gặp nhau CH lấy trong TÚi quần đang mặc một bì ni lông có chứa ma TÚy đưa cho và nói T cầm lấy mà dùng, đừng có đi xin ai. Sau đó CH nhờ T đi vào nhà anh Hùng Văn T1 (sinh năm: 1995; nơi cư trú: Thôn MT, xã BY, huyện NH, tỉnh Kon Tum) làm nghề lái xe để lấy chìa khóa dự phòng xe ô tô đưa xuống khu vực Cống ba lỗ thuộc thị trấn Đăk H cho anh T. T cầm lấy bì ni lông chứa ma Túy mà CH đưa cất vào Túi quần trước bên phải, rồi gọi điện thuê xe đến chở đi lấy chìa khóa và đi xuống Cống ba lỗ thuộc Tổ dân phố 9, thị trấn Đăk h, huyện Đăk H, tỉnh Kon Tum để đưa chìa khóa xe xuống cho T1. Khi đang giao nhận chìa khóa xe và các tài sản khác giữa T và T1 thì Công an điều tra công an huyện Đăk Hà giữ và tiến hành kiểm tra, phát hiện trên người T có cất giấu 01 gói ma TÚy và 01 hộp giấy được đóng gói màu đỏ có in họa tiết hoa văn, phía trên bề mặt có in chữ “BEST WISHES”.
Tại Kết luận giám định số: 135/GĐTP-2019 Ngày 15/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kon Tum, kết luận:
- Mẫu chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong trong hộp giấy gửi giám định không phải là ma Ty, có khối lượng: 844,5202g.
- Mẫu chất tinh thể màu rắn trắng (ký hiệu M2) được niêm phong trong bì thư gửi giám định là ma TÚy, có khối lượng: 1,0099g, là loại: Methamphetamine.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kon Tum.
Tại bản cáo trạng số: 05/CT-VKSĐH-HS ngày 24/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà tỉnh Kon Tum đã truy tố bị cáo Trần Quốc T, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma Ty” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma Ty”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Trần Quốc T từ 18 tháng đến 24 tháng tù, không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 10 tháng 11 năm 2019.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy : 01 (một) bì ni lông có kích thước (07x04)cm một đầu có phần zip bấm lại (sau khi giám định còn lại là 0,9890 gam (Không phẩy chín ngàn tám trăm chín mươi gam) ma Ty loại Methamphetamine, bao gói mẫu vật trong bì thư số 135/GĐTP – 2019(M2) của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kon Tum là vật cấm lưu hành
- Trả lại cho bị cáo 01(một) điện thoại di động hiệu REDMI NOTE 8, màu trắng xanh đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội
- Trả lại cho anh Nguyễn Văn Ch:
+ 01 (Một) hộp giấy màu đỏ có in họa tiết hoa văn, phía trên bề mặt có in chữ “BEST WISHES”, bên trong hộp giấy có bọc ni lông và giấy, quấn xung quanh bằng băng keo màu đen, bên trong bọc ni lông và giấy chứa các tinh thể rắn màu trắng (sau khi giám định còn lại là 843,5219 gam (Tám trăm bốn mươi ba phẩy năm ngàn hai trăm mười chín gam) không phải là ma Ty, bao gói mẫu vật trong hộp giấy và bọc xung quanh bằng băng keo trong số 135/GĐTP – 2019(M1) của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kon Tum
+ 01 (Một) Ti dây chéo màu đen
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì; nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo nói lời sau cùng xin được áp dụng hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo Trần Quốc T phù hợp với lời khai của bị cáo trước đó tại cơ quan điều tra và các chứng cứ tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 06 giờ 45 phút, ngày 10/11/2019, tại khu vực Cống ba lỗ thuộc địa phận Tổ dân phố 9, thị trấn Đăk H, huyện Đăk H, tỉnh Kon Tum, lực lượng Công an thị trấn huyện Đăk H đã phát hiện bắt quả tang Trần Quốc T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma Túy có khối lượng 1,0099 gam, là loại Methamphetamine để sử dụng. Vì vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma Túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Bị cáo Trần Quốc T là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, tàng trữ ma Túy có khối lượng đủ cấu thành cơ bản của tội phạm quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Quốc T đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma Túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Khi phạm tội bị cáo nhận thức được ma Túy là một loại chất gây nghiện mà nhà nước cấm, là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật để tàng trữ trái phép chất ma Túy, do đó cần xử các bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng và răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về nhân thân: Bị cáo Trần Quốc T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma Túy, không có nghề nghiệp ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Trần Quốc T.
Về vật chứng của vụ án:
- 01 (Một) phong bì đã niêm phong số 135/GĐTP-2019 (M2) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kon Tum, bên trong chứa 01 (Một) mẫu vật được hoàn lại sau khi đã sử dụng một phần để giám định. Mặt trước có nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ 135/GĐTP-2019 (M2)”, mặt sau có các hình dấu tròn ghi nội dung “ * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ * CÔNG AN TỈNH KON TUM” và có các chữ ký ghi tên của ông Phùng Văn Quế, Phạm Trung Đoàn, Đỗ Thị Thanh Huyền tại mép dán. Bên trong chứa 01 (Một) Ti ni lông có khối lượng đã trừ bì là: 0,9890 gam, là chất ma Ty loại Methamphetamine là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 (Một) Túi dây chéo màu đen và 01 (Một) hộp giấy màu đỏ có in họa tiết hoa văn, phía trên bề mặt có in chữ “BEST WISHES”, bên trong hộp giấy có bọc ni lông và giấy, quấn xung quanh bằng băng keo màu đen, bên trong bọc ni lông và giấy là đường phèn. Đây là tài sản thu giữ của anh Nguyễn Văn Ch nên cần trả lại cho chủ sở hữu
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu REDMI NOTE 8, màu trắng xanh đã qua sử dụng; đây là tài sản cá nhân của bị cáo Trần Quốc T không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 (Một) xe ô tô mang biển kiểm soát 82A-04664, màu trắng đã qua sử dụng thuộc chủ sở hữu của anh Hùng Văn T1; 01 (Một) xe ô tô mang biển kiểm soát 82A – 02128, màu vàng, gắn nhãn hãng taxi Tiên Sa, đã qua sử dụng thuộc sở hữu của Công ty cổ phần vận tải thương mại Phú Hoàng. Đây không phải là vật chứng của vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về việc xem xét việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn:
Xét thấy cần tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo việc Thi hành án.
Các vấn đề khác:
- Về nguồn gốc số ma Túy thu giữ của bị cáo Trần Quốc T: bị cáo Trần Quốc T khai do anh Nguyễn Văn Ch cho nhưng qua điều tra, đối chất anh Nguyễn Văn Ch không thừa nhận đã cho bị cáo ma Túy và cũng không có chứng cứ chứng minh anh Nguyễn Văn Ch đã cho bị cáo ma Túy nên không có căn cứ chứng minh số ma Túy đó là của anh Nguyễn Văn Ch cho bị cáo.
Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo bị kết án phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma Ty”.
Về hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Quốc T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 10 tháng 11 năm 2019.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Ma Túy loại Methamphetamine (vật chứng còn lại sau giám định) có tổng khối lượng 0,9890 gam là vật Nhà nước cấm lưu hành đựng trong 01 (Một) phong bì đã niêm phong số 135/GĐTP-2019 (M2) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kon Tum, bên trong chứa 01 (Một) mẫu vật được hoàn lại sau khi đã sử dụng một phần để giám định. Mặt trước có nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ 135/GĐTP-2019 (M2)”, mặt sau có các hình dấu tròn ghi nội dung “ * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ * CÔNG AN TỈNH KON TUM” và có các chữ ký ghi tên của ông Phùng Văn Quế, Phạm Trung Đoàn, Đỗ Thị Thanh Huyền.
- Trả lại cho anh Nguyễn Văn Ch gồm: 01 (Một) Túi dây chéo màu đen
và 01 (Một) hộp giấy màu đỏ có in họa tiết hoa văn, phía trên bề mặt có in chữ “BEST WISHES”, bên trong hộp giấy có bọc ni lông và giấy, quấn xung quanh bằng băng keo màu đen, bên trong bọc ni lông và giấy là đường phèn.
- Trả lại cho bị cáo Trần Quốc T 01 (Một) điện thoại di động hiệu REDMI NOTE 8, màu trắng xanh, đã qua sử dụng.
(Các vật chứng có đặc điểm, hình dạng, kích thước như trong Biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 27 tháng 02 năm 2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk Hà và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đăk Hà được ban hành kèm theo Quyết định chuyển vật chứng số: 05/QĐ-VKS ngày 24/02/2019 của VKSND huyện Đăk Hà).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Quốc T phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331; 332; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
“Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT1-TANDTC; - Tòa cấp cao Đà Nẵng; - TAND tỉnh Kon Tum; - VKSND huyện Đăk Hà; - CA huyện Đăk Hà; - Chi cục THA dân sự huyện Đăk Hà; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Qúy Nhân |