- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Hậu - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bi ̣ cáo Lê Văn H phạm tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2020/HSST Ngày: 18/02/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Nông Thị Ngọc Ánh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Trọng Bình
Ông Đào Văn Ngọc
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Mai Thị Ngân - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Văn Hằng - Kiểm sát viên .
Ngày 18 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2019/HSST ngày 25 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:
Lê Văn H , sinh năm 1998, tại: Bình Phước; Hộ khẩu t H trú: Thôn 2, xã P, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 10/12; con ông Lê HH, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị H , sinh năm 1973; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/10/2019 đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
1. Người bị hại:
1.1. Lê Văn Lý, sinh năm 1987
Địa chỉ: Thôn T , xã Phước M , huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước
1.22. Phạm Hữu Q , sinh năm 18/01/2002
Người đại diện hợp pháp cho ông Q : Ông Phạm Hữu T – là bố ruột của
Phạm Hữu Q
Cùng địa chỉ: Thôn 2, xã P , huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị Dâng, sinh năm
1973
Địa chỉ: Thôn 2, xã P , huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước
3. Người làm chứng:
3.1. Trần Thị H , sinh năm 1972 Địa chỉ: Ấp T , thị trấn Th , huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước
3.2. Nguyễn Văn Hướng, sinh năm 1995 Địa chỉ: khu phốT , thị trấn Th, huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước
3.3. Nguyễn ThànhH , sinh năm 1989 Địa chỉ: Ấp , thị trấn Th , huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước
3.4. Nguyễn Thị H , sinh năm 1973 Địa chỉ: Thôn 2, xã P , huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước
3.5. Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 2003
Người đại diện hợp pháp cho Nguyễn Thành Đ: Ông Nguyễn Văn Thsinh năm 1963 (là bố ruột của của Nguyễn Thành Đ) Cùng địa chỉ: Ấp T, xã P , huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 19 giờ, ngày 08/9/2019 anh Lê Văn Lý đang ở vườn rẫy thuộc thôn B ình lợi, xã Phước Minh, Lê Văn H đến hỏi mượn xe mô tô Honda Blade BKS: 93H1-238.82 để đi về nhà thì Lý đồng ý. Trên đường về H nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe trên để đi cầm cố lấy tiền tiêu xài. Do đó, H điều khiển xe mô tô BKS: 93H1-238.82 sang thị trấn Th , huyện Bù Đốp cầm cho Nguyễn Văn Hướng lấy 4.000.000 đồng dùng vào việc tiêu xài cá nhân hết. Do hết thời hạn H không sang chuộc xe nên Hướng đã bán cho một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch. Sau khi phát hiện H mượn xe không trả nên anh Lý đã làm đơn trình báo lên Công an xã Phước Minh.
Kết luận định giá tài sản số: 38/HĐ.ĐGTSTTTHS ngày 04/11/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bù Gia Mập, tại thời điểm ngày 08/9/2019 giá trị của xe mô tô hiệu Honda, loại Blade BKS: 93H1 - 238.82 là 15.000.000 đồng.
Vụ thứ hai: Khoảng 19 giờ ngày 10/10/2019 Lê Văn H và Phạm Hữu Q ngồi chơi tại khu vực bờ đập thuộc thôn 2, xã P . Lúc này, H rủ Q nH nên mượn xe mô tô BKS: 93H1-227.78 của Q để đi mua đồ thì Q đồng ý. Trên đường đi H nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe trên bằng cách cầm cố lấy tiền tiêu xài. Do đó, H điều khiển xe mô tô BKS 93H1 - 227.78 đến tiệm cầm đồ “Minh H ”, thuộc thị trấn Th , huyện Bù Đốp do bà Trần Thị H làm chủ và cầm chiếc xe trên được 4.000.000 đồng rồi bắt xe khách xuống tp HCM đi chơi. Đến sáng ngày 11/10/2019 H về lại huyện Bù Đốp và gọi điện cho bà Nguyễn ThịH (mẹ của H ) đến tiệm cầm đồ của H để chuộc xe nhưngH không đồng ý, tiếp đó H gọi điện cho Q nói dối với Q là người nhà bên chủ cầm đồ, Q đến chuộc xe không thì hết hạn sau đó H tắt máy. Do đợi mãi Q không sang chuộc xe nên H gọi điện cho Nguyễn Văn Hướng qua chỗ H bán giúp xe, Hướng sang gặp H thì H đồng ý mua với giá 7.000.000 đồng. H lấy 3.000.000 đồng đưa cho Hướng để Hướng về đưa cho H . Số tiền có được H sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân hết. Sau khi mua được xe của H thì H đã bán cho Nguyễn ThànhH với số tiền 9.700.000 đồng,H cũng bán lại chiếc xe trên cho một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch.
Sau khi biết H chiếm đoạt xe của mình nên Phạm Hữu Q đã làm đơn trình báo lên công an xã Phước Minh tố cáo hành vi của Lê Văn H . Đến ngày 12/10/2019 H đã ra cơ quan công an đầu thú và giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Nokia không có nặp bên trong có lắp sim số 0368018935.
Trong quá điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng có ý kiến như sau:
- Bị cáo Lê Văn H đã khai nhận vào ngày 08/9/2019 bị cáo mượn xe mô tô hiệu hon đa Blade biển kiểm soát 93 H1 – 238.82 của Lê Văn Lý để đi về nhà thì bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của ông Lý để cầm cố lấy tiền tiêu sài nên bị cáo đã điều khiển xe hon đa biển kiểm soát 93 H1 – 238.82 đi cầm cố cho ông Nguyễn Văn Hướng lấy số tiền 4.000.000 đồng để sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân. Và ngày 10/10/2019 bị cáo cũng đã lợi dụng sự tin tưởng của Q nên bị cáo đã mượn xe mô tô biển kiểm soát 93 H1 -227.78 của Phạm Hữu Q để đi mua đồ về uống rượu. Trên đường đi bị cáo cũng đã nảy sinh ý định và chiếm đoạt chiếc xe này để đi cầm cố lấy tiền tiêu sài cá nhân.
- Tại phiên tòa người bị hại Phạm Hữu Q trình bày: Do tin tưởng vì là bạn quen biết nhau với H nên ngày 10/10/2019 khi H mượn xe đi mua đồ về uống rượu thì ông Q đồng ý. Tuy nhiên việc H cầm cố chiếc xe để lấy tiền tiêu xài cá nhân thì ông không biết. Nay ông Q yêu cầu bị cáo H phải có trách nhiệm bồi t H giá trị chiếc xe với số tiền là 15.000.000 đồng. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.
- Người đại diện hợp pháp cho Phạm Hữu Q – ông Phạm Hữu T trình bày: Đối với chiếc xe trên là của vợ chồng ông, t H ngày Q con trai ông cũng sử dụng chiếc xe đó làm phương tiện đi lại. Việc bị cáo H tự ý lấy xe cầm cố lấy tiền tiêu xài thì ông không biết. Nay ông cũng đồng ý với yêu cầu của Q , yêu cầu H bồi t H số tiền 15.000.000 đồng tương ứng với giá trị chiếc xe đã bị mất.
- Người bị hại Lê Văn Lý (BL 90 - 91) trình bày: Vào khoảng 19 giờ ngày 08/9/2019 khi ông đang ở trong rẫy tại thôn Bình Lợi, xã Đa Kia, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước chơi thì H đến chơi. Sau đó H mượn xe Blade màu đỏ đen biển số 93 H1 – 238822 để đi về nhà thì ông đồng ý nhưng sau khi H mượn xe thì không thấy H đem trả. Đến ngày 11/10/2019 thì mẹ của H có nơi với ông là H đã lấy xe của ông để đi cầm cố bên huyện Bù Đốp nên ông đã làm đơn trình báo với Công an xã Phước Minh để giải Q . Nay ông Lý yêu cầu Q trả lại xe hoạc trả lại giá trị hiện tại của chiếc xe và không có yêu cầu gì thêm.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Dâng (BL88 -89) trình bày: Vào chiều ngày 10/140/2019 bà có cho con trai là Phạm Hữu Q mượn xe mô tô biển số 93H1 – 22778 để đi chơi. Đến 20 giờ tối cùng ngày thì Q gọi điện thoại về báo là H mượn xe đi không trả. Sau này thì bà biết H đã mượn xe đi cầm cố và bán lại cho người khác ở huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước mà không trả lại cho bà. Hiện nay bà chưa được nhận lại xe. Nay bà yêu cầu H trả lại chiếc xe trên cho gia đình bà, nếu không có xe thì yêu cầu H trả lại số tiền tương ứng với giá trị chiếc xe đã bị mất theo kết quả định giá. Ngoài ra bà không có yêu cầu gì thêm.
- Người làm chứng bà Trần Thị H (bút lục 61, 62, 65,66, 67, 68) trình bày: vào khoảng 17 giờ ngày 10/10/2019 H có hỏi mượn số tiền 4.000.000 đồng và để chiếc xe honda Black lại tại nhà bà Dâng. Đến khoảng 9 giờ sáng ngày 11/10/2019, H gọi điện thoại hỏi bà Dâng mua chiếc xe trên với gia bao nhiêu thì bà Dâng nói mua giá 7.000.000 đồng. Đến chiều 15 giờ cùng ngày thì có anh Hướng đang ở quán của gia đình bà thì giữa H và Hướng nói chuyện qua điện thoại những gì thì bà Dâng không biết. Sau đó Hướng đưa điện thoại cho bà để nói chuyện với H về việc đồng ý mua chiếc xe với giá 7.000.000 đồng và nói bà Dâng đưa cho Hướng 3.000.000 đồng thì bà Dâng đồng ý. Sau đó đối với chiếc xe này bà đã bán lại cho anhH với giá 9.700.000 đồng (việc mua bán không có lập giấy tờ gì). Khi thỏa thuận việc mua bán xe với H thì H nói chiếc xe đó là của H nên bà đồng ý mua xe. Khi thỏa thuận mua xe với H thì không lập giấy tờ gì mà giữa bà và H chỉ lập giấy mượn tiền với nội dung H mượn số tiền 9.500.000 đồng và để lại chiếc xe hon da Black để làm tin (thực tế H chỉ mượn số tiền 4.000.000 đồng nhưng viết giấy với số tiền 9.500.000 đồng vì H nói trường hợp mẹ của H có sang chuộc lại chiếc xe trên thì chuộc lại với giá 9.500.000 đồng thì tôi bà Dâng mới đưa xe cho mẹ của H về.
- Người làm chứng ông Nguyễn Văn Hướng (bút lục 73,74) trình bày: Vào ngày 11/10/2019, H có nhờ ông bán dùm chiếc xe đang cầm tại quán nhà bà H . Do quen biết với ôngH nên ông Hướng có nhờ ôngH đến coi xe thì bà H có hỏi bán bao với giá bao nhiêu thì ông Hướng nói H bán 7.000.000 đồng thì bà H nói để bà H mua thì ông Hướng đồng ý. Sau đó bà H đưa cho ông 3.000.000 đồng để ông đưa lại cho H . Về nguồn gốc chiếc xe này như thế nào thì ông Hướng chỉ nghĩ chiếc xe này là xe của H .
- Người làm chứng ông Nguyễn ThànhH (bút lục 82 -83) trình bày: Trong khoảng tháng 10/2019, bà H có gọi cho ông và nói bà H có chiếc xe bán với giá 9.700.000 đồng thì ôngH có đến coi xe và đồng ý mua lại chiếc xe này. Khi mua bán xe giữa ông và bà Hướng không có lập giây tờ gì. Và nguồn gốc của chiếc xe này ôngH chỉ biết là bà H mua lại của người khác và do tin tưởng bà H nên ôngH cũng không hỏi gì thêm và đồng ý mua xe này. Sau khi mua chiếc xe ôngH đã bán lại cho một người đàn ông với giá 11.500.000 đồng. Người đàn ông này ông Q chỉ gặp 01 lần nên không biết tên, đặc điểm như thế nào thì không rõ.
- Người làm chứng ông Nguyễn Thành Đ (bút lục 84 -85) trình bày: Vào khoảng 19 giờ ngày 10/10/2019, Q chở Đ đi chơi tại bờ đập thuộc thôn 2, xã P , huyện Bù Gia Mập chơi. Khi đang chơi thì có H đến nói chuyện và ru nH . Sau đó H mượn xe của Q để đi mau bia và đồ ăn. Sau khi lấy xe đi thì không thấy H quay lại trả xe cho Q . Sau đó việc H mượn chiếc xe đó dùng vào mục đích gì thì Đ không biết.
- Người làm chứng bà Nguyễn ThịH (bút lục 86 - 87) trình bày: Vào khoảng 21 giờ ngày 10/10/2019, Q có đến nhà tìm H và nói việc H mượn xe nhưng chưa trả. Đến sáng ngày 11/10/2019 H điện thoại cho bà và nói bà đi chuộc lại chiếc xe mà H đã cầm cố tại Bù Đốp với số tiền 9.500.000 đồng nhưng bà không đồng ý và bà cho H số điện thoại của Q để H liên lạc. Sự việc sau đó như thế nào thì bà không biết.
Ngoài ra vào ngày 08/9/2019, H còn mượn xe của ông Lý rồi lấy xe đi cầm cố tại Bù Đốp với giá 8.000.000 đồng và nhờ tôi đi chuộc lại xe cho H nhưng bà cũng không đồng ý. Hiện nay chiếc xe ở đâu thì bà cũng không biết.
Bản cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 23/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái
phép vũ khí quân dụng” và đề ngh ị áp dụng khoản 1 Điều 175, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự và xử phạt mức án từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam ngày 13/10/2019.
Về xử lý vậy chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và người bị hại. Buộc bị cáo H phải cho người ông Phạm Hữu Q và ông Lê Văn L mỗi người số tiền là 15.000.000 đồng tương ứng với trị giá chiếc xe bị cáo đã chiếm đoạt của người bị hại Q và Lý.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi phạm tội của mình là sai, bị cáo gửi lời xin lỗi đến gi đình các bị hại và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, Q định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bù Gia Mập, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Q định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Q định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối chiếu lời khai nhâ ̣n tô ̣i của bi ̣ cáo cơ bản phù hợp vớ i lờ i khai của
người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ về thời gian, địa điểm phạm tội và vâ ̣t chứ ng vu ̣ án . Hô ̣i đồng xét xử có đủ cơ sở kết luâ ̣n : Ngày 08/9/2019, Lê Văn H mượn xe mô tô hiệu hon đa Blade biển kiểm soát 93 H1 – 238.82 của Lê Văn Lý, ngày 10/10/2019 H mượn xe mô tô biển kiểm soát 93 H1 - 227.78 của Phạm Hữu Q . Sau khi mượn được xe bị cáo H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt rồi đem đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đối với mô tô hiệu hon đa Blade biển kiểm soát 93 H1 – 238.82 có giá trị là 15.000.000 đồng, xe mô tô biển kiểm soát 93 H1 -227.78 có giá trị là 15.000.000 đồng.
Hành vi mà bị cáo thực hiện là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, mặt khác gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức được hành vi lợi dụng sự tin tưởng của người bị hại Lê Văn Lý và Phạm Hữu Q , bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người bị hại Lý, Q để đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện . Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi bị cáo gây ra, nhằm giáo dục các bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tinh tiết giảm nhẹ̀ trách nhiê ̣m hinh sự̀
như : Thành khẩn khai báo , ăn năn hối cải ; Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Đây là những tinh tiết già
̉m nhe ̣ trách nhiệm hình sự được xem xét khi lượng hình quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự̀
.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người bị hại Phạm Hữu Q và ông Phạm Hữu T là người đại diện hợp pháp cho Phạm Hữu Q yêu cầu bị cáo H bồi t H trị giá chiếc xe do bị cáo đã chiếm đoạt với số tiền là 15.000.000 đồng và tại phiên tòa bi cáo H cùng đồng ý thỏa thuận số tiền trên cho người bị hại. Xét thấy đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận này giữa bị cáo H và người bị hại Q .
Trong quá trình điều tra người bị hại ông Lê Văn L yêu cầu bị cáo H bồi thường trị giá chiếc xe do bị cáo đã chiếm đoạt với số tiền là 15.000.000 đồng và tại phiên tòa bị cáo H đồng ý trả số tiền trên cho ông L . Do đó cần buộc bị cáo H trả cho ông Lê Văn L số tiền 15.000.000 đồng tương ứng với giá trị chiếc xe mà bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại Lý.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hinh pha ̣̀
t đối với bị cáo và đề nghi ̣ xử lý trách nhiệm dân sự và xử lý vâ ̣t chứ ng là phù hợp nên được chấp nhận.
Về vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia không có nắp phía sau bên trong có lắp sim số 0368018935, số MODEL; 1202 IMEI: 353198/05/270666/1 mà bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước.
Án phí dân sự và hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Q số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bi ̣ cáo Lê Văn H phạm tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 50 của Bộ luật Hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Lê Văn H 15 (mười năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/10/2019.
Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 586 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Lê Văn H bồi thường cho người bị hại Phạm Hữu Q số tiền 15.000.000 đồng.
Buộc bị cáo Lê Văn H bồi thường cho người bị hại Lê Văn L số tiền 15.000.000 đồng.
3. Về Xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự:
Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia không có nắp phía sau bên trong có lắp sim số 0368018935, số MODEL; 1202 IMEI: 353198/05/270666/1
2. Án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị Q số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Văn H phải chịu 1.500.000 đồng
4. Bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp cho người bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thờ i ha ̣n mườ i lăm ngày , kể từ ngày tuyên án . Người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kê từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện Bù Gia Mập; - Chi cục THADS huyện Bù Gia Mập; - CA huyện Bù Gia Mập; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nông Thị Ngọc Ánh |