- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2020/HSST Ngày: 20-01-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đình Mạnh và ông Nguyễn Đức Đông.
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mừng- Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Toà án, Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2020/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1989 tại xã G, huyện V, tỉnh Ninh Bình; Nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã G, huyệnV, tỉnh Ninh Bình; Nơi tạm trú: Thôn L, xã Đ, huyện C, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn A và bà Nguyễn Thị O; Vợ: Hoàng Thị V; Có một con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/12/2019 đến ngày 16/12/2019 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Kim Chi, Công an tỉnh Hải Dương, cã mÆt.
* Người làm chứng:
1- Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1990.
Trú tại: Thôn P, xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương.
2- Anh Nguyễn Quang Tuấn A, sinh năm 1988.
Trú tại: thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dương.
(Anh M, anh Tuấn A vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T là người nghiện ma túy. Khoảng 11 giờ ngày 15/12/2019, T điều khiển xe mô tô BKS 26B1-530.xx, đi từ nhà ở thôn L, xã Đ, huyện C, tỉnh Hải Dương đến thị trấn K, huyện B tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến bờ sông thuộc khu H, thị trấn K, T gặp và mua 01 gói ma túy loại Heroine của người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ với giá 100.000 đồng, cất giấu trong người rồi điều khiển xe tìm nơi sử dụng. Đến 11 giờ 30 phút khi T đang đi trên đê sông S thuộc khu H, thị trấn K thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương phát hiện bắt quả tang.
Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải T đang mặc 01 gói giấy bạc kích thước (0,5 x 1)cm bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục và 01 xe mô tô HonDa waveS BKS 26B1-530.xx.
Kết luận giám định số 07/KLGĐ-PC09 ngày 15/12/2019 của Phòng K thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình xác định: Các cục chất bột màu trắng có trong gói giấy màu trắng bạc thu giữ của Nguyễn Văn T là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1353gam. Heroine nằm trong STT 9, danh mục I, Nghị Định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ. Hoàn lại đối tượng giám định 0,1115 gam Heroine.
Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 07 tháng 01 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.
Đại diện VKSND huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương thực hành quyền công tố trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị HĐXX:
1- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T từ 13 tháng tù đến 16 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 15/12/2019.
* Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Tịch thu cho tiêu huỷ: 0,1115 gam Heroine là m u vật hoàn lại sau giám định.
4- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
{1} Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Giang; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
{2}Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:
Hồi 11 giờ 30 phút ngày 15/12/2019 tại bờ đê sông Sặt thuộc khu H, thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn T có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,1353 gam ma túy loại Heroine, bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng.
{3}Hành vi của bị cáo xâm phạm khách thể được Luật hình sự bảo vệ đó là chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý; xâm phạm trật tự, an toàn xã hội; xâm phạm sức khoẻ và sự phát triển giống nòi của dân tộc. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự nên Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
{4}Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS thì thấy:
Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo có nhân thân tốt, nhận thức được Heroin là chất ma tuý Nhà nước cấm lưu hành và sử dụng trái phép; ma tuý không những gây nguy hại cho sức khoẻ người sử dụng mà còn là nguyên nhân sâu xa d n đến các tệ nạn khác trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến nhân cách, đạo đức con người, thuần phong m tục của dân tộc và sự phát triển của xã hội. Chỉ vì mục đích thoả mãn nhu cầu của bản thân và ý thức coi thường pháp luật bị cáo v n cố tình phạm tội. Do vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc là phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung, phù hợp quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự.
{5}Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
{6}Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Giang thu giữ 0,1353 gam Heroin (hoàn lại sau giám định là 0,1115 gam) là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu cho tiêu huỷ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Đối với xe mô tô BKS 26B1-530.xx là tài sản hợp pháp của ông Hoàng Văn C cho chị Hoàng Thị V mượn làm phương tiện đi lại, ông C và chị V không biết T sử dụng để đi mua ma túy. Ngày 30/12/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương đã trả xe mô tô cho chị V là có căn cứ.
{7}Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 15/12/2019.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu huỷ 0,1115 gam Heroine.
(Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/01/2020 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Bình Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương).
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Bình Giang; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Bình Giang, - Cơ quan thi hành án hình sự (CA tỉnh HD); - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Giang; - Sở Tư pháp; - Bị cáo; - Trại tạm giam Kim Chi; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thị Quyên |