- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trường Đức C phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. - phạm tội phá hoại hoà bình, gây chiến tranh xâm lược (điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Trương Đức C phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| Toµ ¸n nh©n d©n TØnh Nam §Þnh | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2020/HS-ST Ngày: 17 - 11 - 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Minh Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Anh Tuấn.
Ông Ngô Đức Cảnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Giang– Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa:
Bà Vũ Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2020 tại Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2020/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trƣơng Đức C, sinh năm: 1977; Giới tính: Nam.
Nơi cư trú: Xóm Tân Lập, xã YT, huyện ÝY, tỉnh NĐ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trương Đức Ơn, đã chết; Con bà: Bùi Thị Ngọc, sinh năm 1954; Bị cáo là con một; vợ: Trịnh Thị Nga, sinh năm: 1979, đã ly hôn; vợ 2: Trần Thị Hoa, sinh năm 1992; Có 06 con, con lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giữ từ ngày 09-6-2020 đến ngày 18-6-2020. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/6/2020. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Tháng 4 năm 2015, bà Bùi Thị Ngọc (là mẹ đẻ của Trương Đức C) đã bảo lãnh thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV822594 do UBND huyện Ý Yên cấp ngày 14/11/2014 để Cần ký hợp đồng vay 400 triệu đồng, thời hạn vay 84 tháng tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh vượng chi nhánh Nam Định (sau đây viết tắt là Ngân hàng VPBank Nam Định), được đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định ngày 01-4-2015. Tháng 7 năm 2016, do cần thêm tiền để kinh doanh nên Cần hỏi vay 1,2 tỷ đồng của anh Dương Tiến Hải, sinh năm 1974, trú tại: xã Yên Tiến, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Anh Hải đồng ý và thống nhất với mẹ con Cần là anh Hải nộp tiền vào ngân hàng VPBank Nam Định trả khoản vay trước đó cho Cần rồi rút giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gốc giữ làm tin. Thực hiện thoả thuận, anh Hải đã tất toán khoản vay hết 578.720.000 đồng và quản lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Ngọc, không đưa cho ai.
Cuối năm 2016, do vẫn cần thêm tiền để làm ăn, Cần nảy sinh ý định sử dụng giấy tờ giả để vay vốn ngân hàng. Qua mạng xã hội Facebook, Trương Đức C liên hệ với đối tượng không rõ địa chỉ đặt mua giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả. Cần chụp hình bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mẹ mình gửi cho đối tượng sau đó Cần nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả qua dịch vụ chuyển phát và thanh toán 03 triệu đồng thông qua người chuyển dịch vụ. Đến nay Cần không nhớ cụ thể tên dịch vụ và đối tượng gửi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đó. Sau khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, Cần đã sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đó làm hồ sơ đề nghị vay vốn tại VPBank Nam Định. Tháng 11/2016, Cần trao đổi với ông Lại Thanh Tùng là cán bộ tín dụng VPBank Nam Định – Phòng giao dịch Hoàng Văn Thụ (là người tiếp nhận, giải quyết hồ sơ vay vốn trước đó cho bà Ngọc) nhờ làm thủ tục vay vốn. Cần cung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mang tên bà Ngọc và các tài liệu pháp lý như: Sổ hộ khẩu, chứng minh thư, … để ông Tùng thẩm định làm thủ tục hồ sơ. Ngày 21/11/2016, Cần và vợ là Trần Thị Hoa ký hợp đồng cấp hạn mức dự phòng với VPBank – Phòng giao dịch Hoàng Văn Thụ vay 600 triệu đồng, thời hạn 12 tháng. Bà Ngọc ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác. Trước khi giải ngân, VPBank - Phòng giao dịch Hoàng Văn Thụ đã đề nghị xoá đăng ký thế chấp ngày 01-4-2015 và thực hiện đăng ký thế chấp mới vào ngày 21-11-2016. Ngày 16-11-2017, do thay đổi về tên gọi của phòng giao dịch, nội dung đăng ký thế chấp được thay đổi từ VPBank – Phòng giao dịch Hoàng Văn Thụ thành VPBank – Phòng giao dịch Thành Nam. Việc xoá đăng ký thế chấp, thế chấp, thay đổi nội dung đăng ký thế chấp trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định thực hiện.
Theo hợp đồng hạn mức đã ký, ngày 23-11-2016 ngân hàng VPBank Nam Định đã giải ngân số tiền 600 triệu đồng, Cần sử dụng để kinh doanh nhưng sau đó quá trình kinh doanh không hiệu quả. Hồ sơ khoản vay thể hiện: Đến hạn trả nợ gốc, Cần đã hai lần nộp tiền để tất toán và tiếp tục nhận nợ lại vào ngày 24/11/2017 và ngày 16/11/2018 (đều là 600 triệu đồng) nhưng thực tế hai lần nhận nợ này chỉ là đảo nợ khoản vay. Cần chỉ có một phần tiền, số còn lại ông Tùng cho vay, nộp vào tài khoản của Cần để tất toán và làm thủ tục hồ sơ để Cần ký, đề nghị giải ngân vào tài khoản của ông Nguyễn Văn Tuấn (bạn ông Tùng) là người thụ hưởng khi VPBank Nam Định cho vay lại, giải ngân vào tài khoản của ông Tuấn, ông Tuấn rút và đưa lại cho ông Tùng.
Ngoài số tiền vay trên, ngày 27-2-2017, Cần còn vay VPBank Nam Định số tiền 100 triệu đồng, thời hạn 60 tháng, hình thức vay tiêu dùng. Hàng tháng, Cần đều thực hiện trả lãi đúng hạn các khoản vay VPBank Nam Định. Tháng 9/2019, Cần chủ động nộp 400 triệu đồng trả trước một phần gốc khoản vay 600 triệu đồng, đến ngày 14/5/2020 mới tất toán nợ gốc, lãi khoản vay. Ngày 04/6/2020, Cần đã nộp 50.000.000 đồng tất toán khoản vay tiêu dùng. Như vậy, đến ngày 05/6/2020, Trương Đức C không còn dư nợ tại ngân hàng VPBank Nam Định và đề nghị rút giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đã thế chấp. Ngày 08/6/2020, khi mẹ con Cần vừa nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả do ngân hàng bàn giao thì bị phát hiện.
Kết luận giám định số 648/KLGĐ-PC09 ngày 16/6/2020 của Phòng KTHS- Công an tỉnh Nam Định giám định Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV822594 cấp ngày 14/11/2014 mang tên bà Bùi Thị Ngọc kết luận:
+ Hình dấu “Uỷ ban nhân dân huyện ý Yên – tỉnh Nam Định” không phải do con dấu của Uỷ ban nhân dân huyện ý Yên – tỉnh Nam Định đóng ra.
+ Chữ ký đứng tên “Phó chủ tịch Đinh Đức Tuyến” không phải chữ ký của ông Đinh Đức Tuyến.
Kết luận giám định số 822/KLGĐ-PC09 ngày 07/8/2020 của Phòng KTHS- Công an tỉnh Nam Định giám định dấu và chữ ký của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Ý Yên và chữ ký đứng tên phó giám đốc Hoàng Trọng Cường trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV822594 cấp ngày 14/11/2014 mang tên bà Bùi Thị Ngọc kết luận:
+ Hình dấu “Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất” trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thu giữ là hình dấu in. Phương pháp in: In phun màu.
+ Chữ ký đứng tên “Giám đốc Vũ Văn Vui” trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thu giữ không phải chữ ký của ông Vũ Văn Vui.
Quá trình điều tra, Trương Đức C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, nhận thức được việc sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải do cơ quan có thẩm quyền cấp để thế chấp vay tiền của ngân hàng VPBank Nam Định là vi phạm pháp luật.
Trong vụ án này:
- Đối với Ngân hàng VPBank – Phòng giao dịch Ý Yên: Ngày 18/9/2019, anh Hải đề nghị VPBank Ý Yên cấp đơn yêu cầu xoá đăng ký thế chấp ngày 01/4/2015 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Ngọc mà anh Hải đang quản lý. Cán bộ hỗ trợ tín dụng VPBank Ý Yên là Trần Thị Lan Ánh (mới vào làm việc từ 05/8/2019, đang trong thời gian thử việc) kiểm tra, không thấy tên bà Bùi Thị Ngọc dư nợ tại VPBank Ý Yên nên đã soạn đơn đề nghị xoá thế chấp, trình bà Nguyễn Thị Thanh Hoa – Phó Giám đốc phụ trách giao dịch Ý Yên, bà Hoa đã nhập thông tin chứng minh thư nhân dân của bà Ngọc trên hệ thống kiểm tra không thấy dư nợ, thế chấp nên ký đơn đề nghị xoá thế chấp mang tên bà Ngọc cho ông Hải. Việc cấp đơn này chị Ánh, bà Hoa không được lợi ích gì. Ngày 26/9/2019, anh Hải đã đề nghị và được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai Ý Yên xoá đăng ký thế chấp ngày 01/4/2015 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Ngọc mà anh Hải đang quản lý. Nguyễn Thị Thanh Hoa và Trần Thị Lan Ánh đã có những vi phạm quy định, quy trình của VPBank. Tuy nhiên, VPBank không bị thiệt hại vật chất nên hành vi không cấu thành tội phạm.
- Đối với Lại Thanh Tùng: Là cán bộ tín dụng của VPBank chi nhánh Nam Định, thừa nhận làm thủ tục đảo nợ khoản vay năm 2017 và 2018, đã lập khống hồ sơ vay vốn cho Cần; nhờ tài khoản của bạn là ông Tuấn để giải ngân; ông Tuấn và Cần không quen biết, không mua bán gỗ với nhau như thể hiện trên hồ sơ. Cuối năm 2019 mới phát hiện ra việc Cần sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để thế chấp nên đã kịp thời báo cáo lãnh đạo thông báo cho cơ quan chức năng. Nhận thức việc lập khống hồ sơ vay vốn giúp Cần là vi phạm quy định của VPBank. Tuy nhiên, không có hậu quả xảy ra, hiện Tùng đã bị VPBank sa thải. Do đó CQĐT không có hình thức xử lý.
- Đối với ông Hoàng Trọng Cường – Phó Giám đốc; bà Nguyễn Thị Hằng – Nhân viên của Văn phòng đăng ký đất đai huyện Ý Yên: Ngày 21/11/2016 và ngày 16/11/2017 nhận hồ sơ và thực hiện xoá đăng ký thế chấp, đăng ký thế chấp, đăng ký thay đổi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Bùi Thị Ngọc theo đề nghị của VPBank Nam Định. Việc làm này được thực hiện theo quy định, không biết Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giả.
Đối với lần xoá đăng ký thế chấp ngày 26/9/2019, ông Cường và bà Hằng đã không rà soát đầy đủ hồ sơ, tài liệu lưu trữ dẫn đến việc xoá đăng ký thế chấp cùng một nội dung trên hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguyên nhân dẫn đến việc này là do cơ sở, vật chất, dữ liệu của chi nhánh chưa đầy đủ, chưa đồng bộ theo quy định do đó cần kiến nghị khắc phục. Hơn nữa, bằng trực quan ông Cường, bà Hằng không phát hiện được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, không cố ý thực hiện. Khi nhận được thông báo của VPBank Nam Định đã chủ động báo cáo dừng việc thực hiện chuyển nhượng. Đến nay vẫn chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hải tại thửa đất trên. Do đó CQĐT không có hình thức xử lý.
- Đối với bà Bùi Thị Ngọc là mẹ đẻ và chị Trần Thị Hoa là vợ Cần, không biết Cần làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước khi bảo bà Ngọc và chị Hoa ký thủ tục hồ sơ vay vốn có liên quan, Cần nói lần vay vốn này không có tài sản thế chấp nên bà Ngọc và chị Hoa đã tin tưởng ký các thủ tục theo hướng dẫn của Cần và Tùng. Không biết việc Cần làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thế chấp ngân hàng vay vốn do đó CQĐT không có hình thức xử lý đối với bà Ngọc và chị Hoa.
- Đối với Dương Tiến Hải: cho Cần vay tiền, ngoài lời khai của Cần, tài liệu điều tra thu được không thể hiện việc Hải tính lãi suất, không chứng minh được tiền thu lời bất chính của Hải do đó CQĐT không có hình thức xử lý.
- Đối với đối tượng làm “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giả, CQĐT không xác minh được đối tượng trực tiếp làm giả nên CQĐT tiếp tục xác minh để điều tra xử lý đối với đối tượng này.
Việc thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để vay 600 triệu đồng của ngân hàng VPBank Nam Định của Trương Đức C, hàng tháng Cần vẫn thực hiện trả lãi, gốc khoản vay tín chấp đến tháng 5/2020 đã tất toán nợ gốc, lãi. Ngân hàng VPBank Nam Định không bị thiệt hại vật chất nên hành vi này của Cần không phạm tội.
Bản cáo trạng số 62/CT-VKS-P3 ngày 07 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định đã truy tố: Trương Đức C về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 BLHS.
* Tại phiên toà:
- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như nội dung bản cáo trạng và xác định bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định truy tố là đúng, không oan. Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng lượng khoan hồng, xin được hưởng mức án thấp nhất.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định luận tội: Giữ nguyên nội dung cáo trạng và quyết định đã truy tố. Sau khi xem xét đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định đề nghị: Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS, xử phạt Trương Đức C từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách gấp đôi về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;
Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, là lao động chính, gia đình thuộc diện hộ cận nghèo nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với Trương Đức C.
Vật chứng là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV822594 cấp ngày 14/11/2014 mang tên bà Bùi Thị Ngọc đã chuyển theo hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà và phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ kết luận: Năm 2015, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV822594 do UBND huyện Ý Yên cấp ngày 14-11-2014 mang tên bà Bùi Thị Ngọc (là mẹ đẻ của Trương Đức C) đang thế chấp cho anh Dương Tiến Hải để vay tiền làm ăn. Năm 2016 do làm ăn thua lỗ nên Trương Đức C đã nảy sinh ý định sử dụng giấy tờ giả để vay vốn ngân hàng. Qua mạng xã hội Facebook, Cần liên hệ với đối tượng không rõ địa chỉ, đặt mua Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả. Cần chụp ảnh hình bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thật gửi cho đối tượng không rõ tên tuổi, địa chỉ, mấy ngày sau Cần nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả qua dịch vụ chuyển phát và thanh toán 03 triệu đồng. Sau khi có được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, ngày 21/11/2016 Cần sử dụng thế chấp làm hồ sơ đề nghị vay vốn tại Ngân hàng VPBank Nam Định. Khi làm hồ sơ vay vốn, Ngân hàng VPBank Nam Định không phát hiện được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giả nên đã giải ngân thành công khoản vay 600 triệu đồng, thời hạn vay 12 tháng với tài sản đảm bảo là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đó. Ngày 15/5/2020, Cần đã tất toán hết các khoản vay với Ngân hàng. Ngày 08/6/2020, sau khi tất toán khoản vay trên, Cần đến Ngân hàng để nhận lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả thì bị phát hiện.
Như vậy, hành vi nêu trên của Trương Đức C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo qui định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.
Quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định là có căn cứ pháp lý.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo Trương Đức C không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo qui định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính, gia đình thuộc diện hộ cận nghèo, có anh trai là liệt sỹ. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt chưa tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trên cơ sở xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy có đủ căn cứ pháp lý để áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Như vậy cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính, gia đình thuộc diện hộ cận nghèo nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV822594 cấp ngày 14-11-2014 mang tên bà Bùi Thị Ngọc, CQĐT chuyển theo hồ sơ vụ án. Cần tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo: Trương Đức C phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
2. Áp dụng: khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt Trương Đức C 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 09-6-2020 đến ngày 18-6-2020).
Giao bị cáo Trương Đức C cho UBND xã Yên Tiến, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Trương Đức C phải nộp 200.000đồng
Án xử công khai sơ thẩm, báo bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao; - CA; VKSND tỉnh Nam Định. - Cục THADS tỉnh Nam Định; - UBND xã Yên Tiến; - Bị cáo. - Lưu hồ sơ; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Mai Thị Minh Hồng |