vanban.org

Bản án 04/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình Tuyên án 10/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Mạnh H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử tịch thu tiêu hủy toàn bộ; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự xử phạt
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2020/HS-ST
Ngày 10 - 02 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Nhiễu.

Ông Phạm Đức Hiển.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoài, Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 02/2020/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:

Trần Mạnh H, sinh ngày 16 tháng 3 năm 1989 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn B, xã VT, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T (đã chết) và bà Tạ Thị M; có vợ là Phạm Thị Lan A (ly hôn năm 2015); có 01 con; tiền án: Bản án số 84/2017/HSST ngày 09 tháng 11 năm 2017 Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình xử phạt Trần Mạnh H 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 8 năm 2017, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 12 tháng 01 năm 2013 Công an huyện V, tỉnh Thái Bình ra Quyết định số 03/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Mạnh H về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng. Ngày 29 tháng 8 năm 2013 Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình ra Quyết định số 1887/QĐ-UB áp dụng biện pháp đưa Trần Mạnh H vào cơ sở giáo dục bắt buộc, thời gian 24 tháng, về hành vi “Trộm cắp tài sản”; bị bắt, tạm giữ từ ngày 13 tháng 12 năm 2019 đến ngày 19 tháng 12 năm 2019 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Thái Bình. (có mặt)

- Người chứng kiến:

1. Anh Trần Quốc C, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)

2. Ông Phạm Xuân V, sinh năm 1962; nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 13 tháng 12 năm 2019, Trần Mạnh H điều khiển xe mô tô Honda Wave, sơn màu trắng, đeo biển số 29V7 - 155.20 đi từ nhà sang tỉnh Nam Định mục đích mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến khu vực ga Nam Định thuộc thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, H gặp và mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không quen biết, 1.000.000 đồng được 01 túi nilon màu trắng (vỏ bao thuốc lá) bên trong có 10 gói nhỏ đều gói bên ngoài bằng nilon màu đen. Xác định đã mua được ma túy, H không mở ra kiểm tra mà cất túi ma túy vừa mua được vào túi quần dài bên trái phía sau đang mặc rồi điều khiển xe đi về Thái Bình. Khi đi đến đê Quán Chuột thuộc xã Mỹ Tân, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, H lấy 01 gói nhỏ ma túy trong số ma túy vừa mua được cất vào túi áo khoác bên trái phía trước đang mặc mục đích để về tới nghĩa trang xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình sẽ sử dụng. Khi về tới nghĩa trang xã T, do thấy có nhiều người nên H không sử dụng ma túy và đi tiếp. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi H đi đến khu vực thôn Phú Lễ Thượng, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác Công an huyện V, tỉnh Thái Bình yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của anh Trần Quốc C và ông Phạm Xuân V, tổ công tác đã phát hiện, thu tại túi áo khoác bên trái phía trước H đang mặc 01 gói nhỏ gói bên ngoài bằng nilon màu đen, bên trong gói bằng giấy tráng kim màu vàng, mở ra bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (niêm phong ký hiệu M1); thu tại túi quần dài bên trái phía sau H đang mặc 01 túi nilon màu trắng (vỏ bao thuốc lá), bên trong có 09 gói nhỏ đều gói bên ngoài bằng nilon màu đen, bên trong đều gói bằng giấy tráng kim màu vàng, mở ra bên trong mỗi gói đều có chất bột dạng cục màu trắng (niêm phong ký hiệu M2). H khai nhận 10 gói nhỏ trên đều là Hêrôin, H mua mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản quản lý phương tiện và niêm phong vật chứng gửi giám định.

Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Thái Bình ra lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Mạnh H. Qua khám xét không phát hiện, thu giữ tài sản, đồ vật gì.

Tại Kết luận giám định số 451/KLGĐ-PC09 ngày 14 tháng 12 năm 2019 Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật gửi giám định (phong bì M1) là ma túy, loại Heroin (Hêrôine), có khối lượng 0,1166 gam (không phẩy một nghìn một trăm sáu mươi sáu gam); Mẫu vật gửi giám định (phong bì M2) là ma túy, loại Heroin (Hêrôine), có khối lượng 0,5474 gam (không phẩy năm nghìn bốn trăm bảy mươi bốn gam). Heroine STT: 09, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ - CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ.

Cáo trạng số 05/CT-VKSVT ngày 20 tháng 01 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình để xét xử đối với Trần Mạnh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Trần Mạnh H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng; đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt Trần Mạnh H mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 02 phong bì số 451/KLGĐ-PC09 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Bình. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Trần Mạnh H đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo Trần Mạnh H nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, Trần Mạnh H khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 13 tháng 12 năm 2019 tại thôn Phú Lễ Thượng, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình, Trần Mạnh H tàng trữ trái phép 10 gói nhỏ ma túy, loại Hêrôin, có tổng khối lượng 0,6640 gam (không phẩy sáu nghìn sáu trăm bốn mươi gam), mục đích sử dụng cho bản thân. Theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự thì: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: …; c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; …”. Hành vi trên của Trần Mạnh H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Đánh giá về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định về quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Ma túy không những gây tác hại cho sức khỏe, phá hoại hạnh phúc của bao gia đình mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm.

[4] Đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo, thấy: Năm 2017 Trần Mạnh H bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Năm 2013 bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, theo quy định của pháp luật, các tiền sự trên của bị cáo đã được xóa nhưng cần đánh giá bị cáo có nhân thân không tốt.

[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.

[6] Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, không vì mục đích lợi nhuận, bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, số ma túy thu giữ trong vụ án còn lại sau giám định là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, mua bán, do đó cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về nguồn gốc số ma túy, Trần Mạnh H khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực ga Nam Định thuộc địa phận thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định nên cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra, xử lý.

[9] Chiếc xe mô tô Honda Wave, sơn màu trắng, đeo biển số 29V7 - 155.20 là phương tiện Trần Mạnh H sử dụng để đi mua ma túy. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên được đăng ký biển kiểm soát 17M6 - 4273, chủ xe là ông Nguyễn Văn Đ, địa chỉ thôn V, xã T, huyện TT, tỉnh Thái Bình, ông Đ bị mất trộm xe vào tháng 8 năm 2019; H khai mua chiếc xe trên vào tháng 8 năm 2019 của một người không quen biết với giá 1.500.000 đồng, khi giao xe không có đăng ký và đã đeo biển số 29V7 - 155.20. Đối với chiếc xe trên, cơ quan điều tra đã tách ra không giải quyết trong vụ án này và tiếp tục xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

[10] Bị cáo Trần Mạnh H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Mạnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Mạnh H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 13 tháng 12 năm 2019).

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của Trần Mạnh H còn lại sau giám định được niêm phong trong 02 phong bì số 451/KLGĐ-PC09 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Bình. (Vật chứng trên đã được chuyển đến cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Thái Bình vào ngày 21 tháng 01 năm 2020).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Mạnh H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Trần Mạnh H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10 tháng 02 năm 2020).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

Cỡ chữ