vanban.org

Bản án 04/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Tuyên án 25/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Đức A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ Đức A 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/12/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Đức A Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Đức A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ GIÁO
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2020/HS-ST
Ngày 25 - 02 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Xuân Hào;

Ông Hoàng Văn Chuẩn.

- Thư ký phiên toà: Ông Hồ Phúc Vĩnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Tuyên - Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2020/TLST - HS ngày 21 tháng 01 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Đức A, sinh ngày 19 tháng 11 năm 1995 tại Bình Dương. Nơi cư trú: Ấp L, xã V, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Hồng L và bà Trần Thị X; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17/12/2019, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Phú Giáo. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Trần Ngọc Q, sinh năm 1987; địa chỉ: Khu phố t, thị trấn P, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; Có đơn xin vắng mặt.

Bà Trần Thị Tú Tr, sinh năm 1998; địa chỉ: Ấp VT, xã V, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt. [

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 17/12/2019, Vũ Đức A đón xe khách từ xã V, huyện Phú Giáo đến bến xe Bình Dương với mục đích đi mua ma túy về sử dụng. Khoảng 09 giờ cùng ngày, Vũ Đức A đến bến xe Bình Dương gặp một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi mua ma túy đá với giá 300.000 đồng, người đàn ông đồng ý. Vũ Đức A đưa cho người đàn ông số tiền 300.000 đồng, sau đó người đàn ông điều khiển xe mô tô đi lấy ma túy. Khoảng 20 phút sau, người đàn ông quay lại đưa cho Vũ Đức A 01 đoạn ống hút màu vàng hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất ma túy. Vũ Đức A bỏ ma túy trong túi quần bên phải và đón xe khách về nhà tại xã V, huyện Phú Giáo. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Vũ Đức A điều khiển xe mô tô biển số 61L2-xxxx từ nhà ra đường ĐH 505 thuộc Ấp L, xã V thì bị Công an xã V, huyện Phú Giáo bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên phải 01 đoạn ống hút màu vàng hàn kín hai đầu, bên trong có chất rắn màu trắng (nghi vấn là ma túy).

Bản kết luận giám định số 910/MT-PC09 ngày 20/10/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận mẫu tinh thể thu giữ của Vũ Đức A gửi đi giám định là ma tuý, có trọng lượng 0,1764 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ:

- 01 (một) đoạn ống hút màu vàng hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất rắn màu trắng nghi vấn là ma túy được niêm phong có chữ ký của Vũ Đức A, chữ ký của cán bộ niêm phong Trần M O và hình dấu đỏ của Công an xã V, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Sau khi giám định, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương hoàn lại mẫu vật sau giám định được niêm phong, trọng lượng 0,1015 gam.

- 01 (một) xe mô tô biển số 61L2-xxxx, số khung Y351169, số máy JF18E0051243 do bà Trần Ngọc Q, sinh năm 1987, HKTT: Khu phố t, thị trấn P, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đứng tên chủ sở hữu.

- 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số 790167xzxzxz mang tên Vũ Đức A và 01 chứng minh nhân dân mang tên Vũ Đức A.

Tại bản Cáo trạng số 07/CT-VKSPG ngày 20/01/2020 đã truy tố bị cáo Vũ Đức A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu lời luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù. Hình phạt bổ sung: Không.

Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu huỷ: Mẫu vật sau giám định được niêm phong ký hiệu 910/PC09, có trọng lượng 0,1015 gam có dấu đỏ của Công an tỉnh Bình Dương, chữ ký của bị cáo Vũ Đức A và cán bộ Nguyễn Thiên C.

+ Trả lại cho bị cáo Vũ Đức A: 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số 790167xzxzxz mang tên Vũ Đức A và 01 chứng minh nhân dân mang tên Vũ Đức A.

+ Trả lại cho bà Trần Thị Tú Tr: 01 (một ) xe mô tô biển số 61L2-xxxx, số khung Y351169, số máy JF18E0051243.

Trong phần tranh luận bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thống nhất tội danh, mức hình phạt không tranh luận gì thêm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, bị cáo ăn năn hối cải nên đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo xin lỗi cha, mẹ và người thân bị cáo, trong thời gian chấp hành án bị cáo sẽ cai nghiện và hứa sau này về bị cáo sẽ không sử dụng ma túy nữa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng thẩm quyền. Quá trình tố tụng và tại phiên toà bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại về hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; người tham gia tố tụng cung cấp là phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Vũ Đức A khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 17/12/2019, bị cáo Vũ Đức A đã mua 300.000 đồng ma túy của một người đàn ông tại bến xe Bình Dương. Đến 18 giờ cùng ngày bị cáo cất giấu ma túy trong người và đã bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý loại Methamphetamin nhằm mục đích để sử dụng. Theo Kết luận giám định số 910/MT-PC09 ngày 20/12/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể thu giữ của Vũ Đức A gửi đi giám định là ma tuý, có trọng lượng 0,1764gam, loại Methamphetamine. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Về nhận thức, bị cáo biết được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Trọng lượng chất ma túy bị cáo tàng trữ là 0,1764gam, loại Methamphetamine. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Vũ Đức A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 07/CT-VKSPG ngày 20/01/2020 của VKSND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Vũ Đức A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến chính sách quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng đến trật tự trị an trong khu vực, ảnh hưởng tiêu cực đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy mà Nhà nước ta đang tiến hành. Ma túy đang là hiểm họa của nhân loại vì nó không những gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, kinh tế của người sử dụng mà còn là nguyên nhân lây lan nhiều căn bệnh xã hội nguy hiểm và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Hội đồng xét xử xem xét quyết định đối với bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội để bị cáo có thời gian và điều kiện cải tạo thành công dân có ích, đồng thời nêu gương phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như sau:

Về tình tiết tăng nặng: Không có;

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Do đó, HĐXX xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước và pháp luật mà an tâm cải tạo thành công dân có ích.

Xét mức án mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên HĐXX chấp nhận.

Ý kiến, lời nói sau cùng của bị cáo về tội danh, về hình phạt là phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, nhân thân của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông bán trái phép ma túy cho bị cáo Vũ Đức A, hiện chưa rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra xử lý sau.

Về việc xử lý vật chứng:

- Mẫu vật sau giám định được niêm phong ký hiệu 910/PC09, có trọng lượng 0,1015 gam có dấu đỏ của Công an tỉnh Bình Dương, chữ ký của bị cáo Vũ Đức A và cán bộ Nguyễn Thiên C. Xét đây là vật cấm tàng trữ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự nên cần tịch thu tiêu huỷ.

- 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số 790167xzxzxz mang tên Vũ Đức A và 01 chứng minh nhân dân mang tên Vũ Đức A. Đây là giấy tờ, tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

- 01 (một ) xe mô tô biển số 61L2-xxxx, số khung Y351169, số máy JF18E0051243 do bà Trần Tú Q đứng tên sở hữu, hiện đã được bán cho bà Trần Thị Tú Tr nhưng chưa làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận đăng ký. Bà Tr cho bị cáo Vũ Đức A mượn làm phương tiện đi lại nhưng không biết bị cáo dùng vào việc phạm tội. Xét đây là tài sản hợp pháp của bà Tr cần trả lại cho bà Tr.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí.

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Đức A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Vũ Đức A 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/12/2019.

3. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

+ Tịch thu tiêu huỷ: Mẫu vật sau giám định được niêm phong ký hiệu 910/PC09, có trọng lượng 0,1015 gam có dấu đỏ của Công an tỉnh Bình Dương, chữ ký của bị cáo Vũ Đức A và cán bộ Nguyễn Thiên C.

+ Trả lại cho bị cáo Vũ Đức A: 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số 790167xzxzxz mang tên Vũ Đức A và 01 chứng minh nhân dân mang tên Vũ Đức A;

+ Trả lại cho bà Trần Thị Tú Tr (người quản lý hợp pháp): 01 (một) xe mô tô biển số 61L2-xxxx, số khung Y351169, số máy JF18E0051243.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/01/2020 và 12/02/2020 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Giáo với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo).

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Vũ Đức A phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ